Chương 1 trình bày và bình luận về các chứng cứ thực nghiệm ủng hộ cho Phân tích kỹ thuật. Chương 2 khám phá những hạn chế trong hoạt động kinh doanh cổ phiếu và trong việc ứng dụng Phân tích kỹ thuật của các nhà đầu tư cá nhân Việt Nam, thông qua một cuộc khảo sát nhà đầu tư cá nhân và một số chuyên gia. Từ kết quả của cuộc khảo sát thực tế, chương 3 đưa ra hai gợi ý nhằm ứng dụng hiệu quả Phân tích kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam; đó là: gợi ý xây dựng hệ thống Kỷ luật kinh doanh cổ phiếu hợp lý nhằm khắc phục những yếu điểm của Phân tích kỹ thuật; và gợi ý ứng dụng Phân tích kỹ thuật; tiếp đến là kiểm tra tính hiệu của của việc phối hợp hai gợi ý trên trong thực tế thông qua phương pháp kỹ thuật phá vỡ ngưỡng kháng cự. Và cuối cùng là phần kết luận.
Mục tiêu nghiên cứu Thứ nhất, nghiên cứu những hạn chế làm cho nhà đầu tư cá nhân Việt Nam khó có thể tiếp cận Phân tích kỹ thuật một cách hiệu quả. Thứ hai, đưa ra những gợi ý để giải quyết các hạn chế và giúp nhà đầu tư cá nhân Việt Nam có thể tiếp cận Phân tích kỹ thuật một cách hiệu quả. Với mục tiêu trên, đề tài này giải quyết được các vấn đề sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 4 Tìm ra những hạn chế làm cho nhà đầu tư cá nhân Việt Nam khó có thể tiếp cận Phân tích kỹ thuật một cách hiệu quả, đó là: không có hoặc không tuân thủ kỷ luật kinh doanh cổ phiếu. Giới thiệu hai gợi ý giúp nhà đầu tư tiếp cận với Phân tích kỹ thuật một cách hiệu quả đó là: gợi ý xây dựng hệ thống kỷ luật kinh doanh và gợi ý ứng dụng Phân tích kỹ thuật.
Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu khảo sát thông qua một cuộc khảo sát đại trà và chuyên sâu. Khảo sát đại trà được tiến hành đối với các nhà đầu tư cá nhân thông qua phiếu khảo sát; khảo sát chuyên sâu được tiến hành đối với một số chuyên gia thông qua phiếu phỏng vấn. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) với dữ liệu thu được từ cuộc khảo sát đại trà. Cuộc khảo sát được thực hiện thông qua thư điện tử.
Trong đó, bảng câu hỏi khảo sát đại trà được gửi đến 200 nhà đầu tư cá nhân, đang giao dịch tại các công ty chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh, và nhận được 144 kết quả phản hồi đạt yêu cầu; bảng câu hỏi khảo sát chuyên sâu được gửi tới 10 chuyên gia, có ảnh hưởng đến quyết định mua - bán cổ phiếu của tổ chức, và nhận được 7 kết quả phản hồi. Bảng câu hỏi khảo sát được thiết lập dựa trên: Sự tham khảo các bài nghiên cứu trước đây, đặc biệt là hai bài nghiên cứu gần đây: “Stock Market Analysis in Practice: Is It Technical or Fundamental?” - Gil Cohen, Andrey Kudryavtsev và Shlomit Hon-Snir (2011); “Technical analysis and its usage in Indian capital markets: A survey” - Venkatesh, C. và Madhu Tyagi (2011). Những ý kiến đóng góp của các chuyên gia phân tích, kết hợp với hiểu biết lý thuyết và kinh nghiệm thực tế về Phân tích kỹ thuật của người nghiên cứu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 5 Trong quá trình thiết lập, bảng câu hỏi khảo sát đã được khảo sát thử nghiệm với một số nhân viên của Công ty cổ phần chứng khoán Công Nghiệp Việt Nam và được chỉnh sửa hoàn thiện trước khi gửi thư điện tử khảo sát đại trà. Kết quả khảo sát được phân tích bằng các biểu đồ tỷ lệ và phân tích phương sai (ANOVA). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm, từ một người tên là Charles H. Ông là người đã sáng lập lên tạp chí phố Wall (The Wall Street Journal).
Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 1884 ông đưa ra chỉ số bình quân giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mĩ thời gian đó. William Peter Hamilton là người thực sự mang lại sức sống cho những nghiên cứu của Dow bằng việc tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “The Stock Market Barometer” vào năm 1922. Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W. Schabacker là người đã đi sâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker là người đã đưa ra khái niệm đầu tiên về Phân tích kỹ thuật.
Schabacker từng là chủ biên của tạp chí Forbes nổi tiếng. Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ. Điều này đã được ông thể hiện và chứng minh trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory and Practice, Technical Market Analysis and Stock Market Profit”. Như vậy những cơ sở đầu tiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow, nhưng phải đến Schabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại, tiếp đó là Edward và Magee với “Technical Analysis of Stock Trend” (cuốn sách đã được tái bản 9 lần) và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring, … thì mới thực sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổng kết thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung.
Bằng chứng từ các thị trƣờng chứng khoán phát triển Alexander (1961) đã kiểm tra hiệu quả của việc sử dụng một hệ thống bộ lọc trong giao dịch chứng khoán. Nghiên cứu của ông cho thấy các bộ lọc đó đã đem lại lợi nhuận đáng kể. Cootner và James Jr. (1962) cũng đã thử nghiệm với Đường trung TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 7 bình động.
Họ tin rằng các kỹ thuật này chỉ ra các biến động ngẫu nhiên và do đó sự thay đổi trong các xu hướng cơ bản có thể nhận thấy được. Kỹ thuật này đã lựa chọn các cổ phiếu có diễn biến giá tốt so với giá trung bình của 26 tuần trước đó. Theo Levy, các danh mục đầu tư theo sức mạnh tương đối có lợi nhuận cao hơn so với chiến lược mua và nắm giữ, nhưng cũng có những rủi ro cao. Neftci và Policano (1984) sử dụng phương pháp trung bình động và độ dốc để phân tích thị trường tương lai.
Kết quả cho thấy rằng bằng cách mô tả hành vi thực tế của những người tham gia thị trường, các dự đoán giá đã được cải thiện. Jeffrey Frankel và Kenneth Froot (1990) ghi nhận một tỷ lệ lớn việc sử dụng phân tích kỹ thuật trong dự báo thị trường của các chuyên gia. Cuộc khảo sát của Euromoney cho thấy rằng có một sự định hướng lại rất lớn từ phân tích cơ bản đến phân tích kỹ thuật suốt thời kỳ 1978-1988. Brock, Lakonishok và Le Baron (1992) đã thử nghiệm hai quy tắc giao dịch đơn giản và phổ biến nhất: Trung bình động và Phá vỡ phạm vi giá (dựa vào mức kháng cự và hỗ trợ) với chỉ số Dow Jones từ năm 1897 đến 1986.
Các kết quả này hỗ trợ mạnh mẽ cho các chiến lược kỹ thuật và cho rằng các tín hiệu mua (bán) tạo ra lợi nhuận cao hơn (thấp hơn) so với lợi nhuận bình thường. Blume, Easley và O'Hara (1994) xem xét vai trò của khối lượng giao dịch và ứng dụng của nó trong phân tích kỹ thuật. Trong mô hình của họ, phân tích kỹ thuật có giá trị bởi vì số liệu thống kê thị trường hiện tại có thể là đủ để tiết lộ một số thông tin, nhưng không phải tất cả. Tính độc đáo trong mô hình của họ là khối lượng giao dịch nắm bắt được thông tin quan trọng ẩn trong tín hiệu thông tin của các nhà đầu cơ.
Batten và Ellis (1996) đã phân tích thành quả và yếu kém của giao dịch theo phương pháp kỹ thuật với chỉ số Australian All Ordinary (AAOI). Các hệ thống giao dịch được sử dụng có thể tạo ra lợi nhuận lớn hơn so với chiến lược mua và nắm giữ (không tính chi phí giao dịch). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Priestley (1997) sử dụng giá đóng cửa hàng ngày của 63 cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán Istanbul (ISE) trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1988 đến tháng 12 năm 1993 để đánh giá hiệu quả của dự báo lợi nhuận dựa trên giá cả trong quá khứ.
Họ phát hiện ra rằng phân tích kỹ thuật giá trong quá khứ đóng một vai trò quan trọng trong các dự báo. Hơn nữa, tác giả còn nhấn mạnh rằng nếu phân tích này kèm theo phân tích kỹ thuật về khối lượng giao dịch thì nó có thể hỗ trợ gia tăng độ tin cậy cho các dự báo, đặc biệt là trong trường hợp cổ phiếu có mức khối lượng giao dịch thấp. Lý do cho điều này là dựa trên tiền đề khối lượng giao dịch ẩn chứa thông tin về chất lượng và sự xuất hiện của thông tin mà giá không có. Mamaysky và Wang (2000) đề xuất một phương pháp tiếp cận có hệ thống và tự động nhận dạng mẫu hình kỹ thuật bằng cách sử dụng hồi quy hạch không tham số, và áp dụng phương pháp này với một số lượng lớn các cổ phiếu Mỹ.
Họ tìm thấy rằng trong khoảng thời gian mẫu 31 năm, một vài chỉ số kỹ thuật cung cấp thông tin gia tăng và có thể có một số giá trị thực tiễn. Fliess, Ronald Macdonald (2002) gán một tầm quan trọng đặc biệt đối với giá mở cửa, giá cao, giá thấp và giá đóng cửa trong dự báo biến động của tỷ giá hối đoái bằng cách sử dụng phân tích kỹ thuật. Trong bài báo này tác giả đề nghị điều tra các tính chất chuỗi thời gian và nội dung thông tin của các mức giá khác nhau. Tóm lại, bài viết này lập luận rằng phân tích kỹ thuật trong giá cao, giá thấp và giá đóng cửa là hữu ích trong việc nhận biết biến động của tỷ giá hối đoái.
Wing-Keung Wong, Meher Manzur, Boat-Kiat Chew (2003) đã kiểm tra thành quả của việc áp dụng phương pháp kỹ thuật xu hướng, trung bình động và chỉ số sức mạnh tương đối trên cơ sở dữ liệu của Sở Giao dịch Chứng khoán Singapore (SES). Các tác giả kết luận rằng duy nhất trung bình động đơn cho những kết quả tốt nhất, tiếp theo là trung bình động kép và các chỉ số sức mạnh tương đối.