CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH VÀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG ĐỂ ĐO LƯỜNG TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1.1 Một số vấn đề cơ bản về thiên tai và tác động của thiên tai tới nuôi trồng thủy sản 1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm của thiên tai 1.1 Khái niệm Thiên tai là hiệu ứng của một tai biến tự nhiên như lũ lụt, bão, phun trào núi lửa, động đất hay sạt lở đất có thể ảnh hưởng tới môi trường và dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và/hay con người. Thiệt hại do thảm hoạ tự nhiên phụ thuộc vào khả năng chống đỡ và phục hồi của con người với thảm hoạ. Sự hiểu biết này được tập trung trong công thức: “Thảm hoạ xảy ra khi rủi ro xuất hiện cùng sự dễ bị tổn thương”. Một rủi ro thiên nhiên vì thế không thể dẫn tới thảm hoạ tự nhiên tại các khu vực không dễ bị tổn thương, ví dụ những trận động đất lớn tại các khu vực không có người ở.
[3] Theo luật Phòng chống thiên tai số 33, Quốc hội 13 (2013) thì “Thiên tai” được định nghĩa là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác. Thiên tai đang có xu hướng cực đoan hơn bởi tác động của biến đổi khí hậu. Thiên tai còn được hiểu là sự gián đoạn các hoạt động kinh tế, xã hội gây tổn thất về người, tài sản, môi trường và điều kiện sống do các hiểm họa tự nhiên gây ra. Trong thực tế việc phân biệt khái niệm về hiểm họa (thường đề cập đến một hiện tượng vật lý) và khái niệm về thiên tai là rất quan trọng.
Một hiểm họa khi xảy ra không nhất thiết sẽ dẫn tới một thiên tai. Tuy nhiên, nếu hiểm họa gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng tới cộng đồng và có phạm vi ảnh hưởng rộng, dẫn tới các thiệt hại lớn và gây gián đoạn cuộc sống bình thường của cộng đồng thì lúc đó thiên tai sẽ xảy ra. [4] 6 Theo báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (SREX Việt Nam) thiên tai được hiểu là các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện dễ bị tổn thương của xã hội làm thay đổi nghiêm trọng trong chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi.2 Phân loại và đặc điểm thiên tai Thiên tai được phân loại bao gồm: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác. Trong phạm vi đề tài này tập trung đánh giá ba hiện tượng thiên tai quan trọng tác động trực tiếp tới Nghệ An: Bão, hạn, xâm nhập mặn.
* Bão Bão là một dạng thiên tai rất thường xuyên ở Việt Nam, ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới đối với nước ta diễn ra từ tháng 3 đến tháng 12, bão ảnh hưởng tập trung từ tháng 6 đến tháng 11 và nhiều nhất trong hai tháng (tháng 9 và tháng l0). Trong vòng hơn 50 năm (1956-2019) đã có hơn 500 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó 31% đổ bộ vào Bắc Bộ, 36% đổ bộ vào Bắc và Trung Trung Bộ, 33% đổ bộ vào Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Khi bão đổ bộ vào đất liền, gió mạnh sẽ gây thiệt hại đi kèm theo lũ và sạt lở đất (chưa kể tới mưa lớn và nước dâng do bão). Hiện tượng giảm áp suất không khí trong bão có thể tạo nên hiện tượng nước biển dâng cục bộ, mà hệ quả của nó là gây ngập lụt nghiêm trọng vùng ven biển.
7 Mùa bão của mỗi khu vực khác nhau (gồm những tháng liên tục có số bão và áp thấp nhiệt đới trung bình tháng đạt từ 8% số bão trung bình năm của cả khu vực). Giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 12 số bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực từ Quảng Ninh - Thanh Hóa chỉ bằng 50 - 60%, nhưng đối với các khu vực từ Nghệ An - Nam Bộ từ 80 - 100% tổng số bão và áp thấp nhiệt đới cả năm. [7] Quỹ đạo của bão và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông phức tạp và không theo quy luật thông thường, không có hướng di chuyển rõ rệt. Theo thông báo của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH, những năm gần đây quỹ đạo của bão có xu hướng dịch chuyển về phía Nam, nhưng đa số không thể dự báo, xác định chính xác đường đi của bão.
Do tác động của biến đổi khí hậu, dự báo trong tương lai gần số lượng cơn bão có cường độ mạnh sẽ gia tăng và khó dự báo sớm. Chính vì thế cần có các giải pháp sớm, phù hợp nhằm phòng tránh và hạn chế thiệt hại do bão gây ra. * Hạn Hạn là hiện tượng được tạo thành bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng lượng mưa trong thời gian kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất. Hạn xảy ra dẫn đến tình trạng thiếu nước, gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh.làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và các hoạt động sản xuất của người dân đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp và chăn nuôi, nếu xắp xếp theo thứ tự gây thiệt hại về tài sản và sinh mạng trên toàn cầu thì hạn hán đứng thứ 4 sau lũ lụt, động đất và bão.
[8] Trong những năm gần đây, hạn hán liên tiếp xảy ra ở nhiều vùng trong cả nước và ngày càng nghiêm trọng. Đây là một thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Hạn hán là hậu quả trực tiếp của biến đổi khí hậu nhưng cũng còn một nguyên nhân quan trọng khác là hoạt động của con người tác động đến thiên nhiên, tàn phá rừng, mở rộng canh tác tràn lan, xây dựng hồ đập không có quy hoạch hợp lý đã dẫn đến suy 8 giảm nguồn nước trong khi nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất và sinh hoạt, phát triển kinh tế không ngừng tăng lên. * Xâm nhập mặn Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bằng 4‰ xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt.
Xâm nhập mặn - yếu tố quan trọng trong quản lý chất lượng nước vùng cửa sông và ven biển là một quá trình phức tạp liên quan đến thủy động lực học và vận chuyển chất trong sông. Trong thực tiễn, sự tương tác giữa nước ngọt và nước biển diễn ra dưới sự tác động của lưu lượng dòng chảy trong sông, thủy triều, gió; các nhân tố này ảnh hưởng đến khả năng xáo trộn pha loãng của nước sông với nước biển. Rõ ràng ba yếu tố kể trên và yếu tố địa hình của từng khu vực cửa sông dao dộng theo từng địa điểm khác nhau, do đó xâm nhập mặn tại các lưu vực sông cũng mang nhiều tính chất đặc trưng khác nhau. Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu đã làm thay đổi chế độ dòng chảy trong sông, nước biển dâng dẫn đến diễn biến của xâm nhập mặn ngày càng gay gắt và tác hại ngày càng lớn.
Ngoài ra, hoạt động của con người nhờ xây dựng hồ chứa, dập dâng, kênh dẫn, khai thác cát, kè bờ biển và cửa sông cũng tác động đáng kể đến diễn biến xâm nhập mặn.2 Tác động của một số loại hình thiên tai cơ bản đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản Thiên tai đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản, biểu hiện thông qua: giảm sản lượng, năng suất, chất lượng thủy sản, diện tích nuôi trồng thủy sản giảm hoặc biến mất cùng với đó là tăng nguy cơ xuất hiện các loại dịch bệnh. Thiên tai cũng làm thay đổi quy luật của các con sông gây nên hạn hán, cũng như làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loại sinh vật, làm mất đi hoặc thay đổi các mắt xích trong chuỗi thức ăn dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài sinh vật và ngược lại xuất hiện nguy cơ gia tăng các loại dịch bệnh [10]. Tác động của Bão: Gió mạnh trong bão và mưa có thể làm hư hỏng hệ thống ao hồ, lồng bè trong nuôi trồng thủy sản, làm trôi các loại thủy hải sản nuôi của các hộ dân; mưa, bão cũng là yếu tố làm mất cân bằng nồng độ mặn trong nước, không đảm bảo điều kiện 9 để các loại con giống có thể sống khỏe mạnh, cho năng suất cao nhất. Đây là những điều kiện làm ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là với hộ dân, những vùng, khu vực không đủ điều kiện để đầu tư cơ sở hạ tầng thủy sản đảm bảo để chống lại các hiện tượng thiên tai.
Tác động của hạn: Hạn hán có thể làm giảm năng suất, sản lượng, doanh thu của hoạt động nuôi trồng thủy hải sản; hạn hán có thể ảnh hưởng đến các vật nuôi, gia súc, gia cầm do thiếu nước cho chăn nuôi (bị chết hoặc giảm năng suất). Hạn hán làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân và có tác động lớn đến nền kinh tế của nơi xảy ra thiên tai. Ngoài ra, một thiệt hại gián tiếp là khi hạn hán xảy ra làm cho lưu lượng nước trong sông, nước ngầm bị suy kiệt dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn, nhiễm mặn ở khu vực cửa sông, ven biển.