Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH B-LEARNING NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA GOOGLE CLASSROOM E-learning là một bước đột phá của nền giáo dục thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Những lợi ích mà E-learning mang lại cho giáo dục là vô cùng to lớn, song vẫn còn tồn tại những bất cập mà E-learning vẫn chưa khắc phục được như việc phát triển kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp,. thì E-learning chưa đáp ứng được yêu cầu đó.
Dạy học truyền thống giải quyết được các khó khăn nói trên của E-learning. Nhưng với dạy học truyền thống, người học chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, thầy giảng trò nghe và không làm chủ được việc học của mình. Bên cạnh đó, GV không có đủ thời gian để theo dõi hoặc hướng dẫn cho từng HS trong lớp nếu lớp học có đông HS. Mô hình B-learning ra đời như là một giải pháp kết hợp dạy học truyền thống và E-learning để khắc phục các nhược điểm và khó khăn nói trên.
Khái niệm về mô hình B-learning B-learning là tên viết tắt của “Blended Learning” (BL). “Blended” có nghĩa là pha trộn, kết hợp hoặc hỗn hợp. Blended Learning có nghĩa là học tập hỗn hợp hay học tập kết hợp. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về mô hình này và mô hình đã được áp dụng rộng rãi từ các trường tiểu học cho đến các trường đại học, tiêu biểu như: Rocketship Public Schools, KIPP LA Schools, Summit Public Schools (Bernatek, Cohen, Hanlon, & Wilka, 2012), School District of Philadelphia (Beaver, Hallar, Westmaas, & Englander, 2015) … Có nhiều cách định nghĩa về mô hình BL, theo Stacker và B.
Horn thì: BL là một chương trình giáo dục mà ở đó HS học một phần nội dung bài học theo dạng trực tuyến và một phần nội dung bài học theo dạng truyền thống, mặt đối mặt (Staker, 2011; Staker & Horn, 2012). Tác giả Garrison đã định nghĩa: BL là một phương pháp được thiết kế để tích hợp các điểm mạnh của học tập trực tiếp và trực tuyến (Garrison & Vaughan, 2007). Luan van 8 Ở Việt Nam, đã có các nghiên cứu về mô hình BL song vẫn còn khá ít. Theo tác giả Nguyễn Danh Nam thì sự kết hợp giữa E-learning với lớp học truyền thống trở thành một giải pháp tốt, nó tạo thành một mô hình đào tạo gọi là “Blended Learning” (Nguyễn Danh Nam, 2007).
Như vậy, khái niệm về mô hình BL được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng chung quy lại BL là mô hình dạy học kết hợp giữa dạy học truyền thống (mặt đối mặt) và dạy học trực tuyến (E-learning). “B-learning là sự tiến hóa hợp lí và tự nhiên nhất trong tiến trình học tập” (Trần Huy Hoàng & Nguyễn Kim Đào, 2014), nó phát huy các ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của hai cách dạy học nói trên. Theo Carman, mô hình BL được thiết kế dựa vào lý thuyết học tập của Keller, Gagné, Bloom, Merill, Clark và Gery, trong đó có 3 lý thuyết cốt lõi bao gồm: thuyết nhận thức (Cognitivism), thuyết kiến tạo (Constructivism) và sự hỗ trợ thực hiện (Performance Support). “Đó là những lý thuyết vừa phản ánh lịch sử phát triển, vừa mang tính xu hướng của thời đại, có thể vận dụng hiệu quả trong giáo Hình 1.
Lý thuyết mô hình BL dục người lớn” (Đỗ Thế Hưng & Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014). Tất cả các lý thuyết trên cùng kết hợp với nhau tạo nên lý thuyết về mô hình BL (hình 1. Các thành phần của mô hình B-learning Theo Carman, mô hình BL gồm 5 thành phần chính, nó được xem như là 5 yếu tố quan trọng của một quá trình học tập kết hợp. Các thành phần đó bao gồm: hoạt động đồng bộ (Live Event), tự học tập (Self – Paced Learning), cộng tác (Collaboration), đánh giá (Assessment), tài liệu hỗ trợ (Performance Support Materials) (hình 1.
Luan van 9 Hình 1. Các thành phần của mô hình BL - Hoạt động đồng bộ: các quá trình dạy và học được diễn ra dưới sự kiểm soát của GV, trong đó HS tham gia cùng một lúc. - Tự học tập: HS tự lên kế hoạch học tập, thời gian và địa điểm học tập, học theo tiến độ của mình thông qua Internet, CD – ROM… Thành phần này đặc biệt giúp cho năng lực tự học của HS được phát triển một cách tối đa. - Cộng tác: người học giao tiếp với người khác thông qua e-mail, các cuộc thảo luận hoặc trò chuyện trực tuyến.
- Đánh giá: là một trong những thành phần quan trọng nhất của BL, vì hai lý do: Nó cho phép người học dễ dàng kiểm tra nội dung mà họ đã biết, để điều chỉnh quá trình BL của họ và thể hiện hiệu quả của tất cả các phương pháp và hoạt động học tập. - Tài liệu hỗ trợ: Tài liệu hỗ trợ thúc đẩy việc duy trì và chuyển giao học tập với môi trường làm việc, và đây được xem là thành phần quan trọng nhất của BL. Như vậy, trong tất cả các kiểu dạy học của mô hình BL đều phải có đầy đủ các thành phần này. Các kiểu dạy học trong mô hình B-learning BL có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, GV có thể sử dụng một hoặc kết hợp nhiều kiểu dạy học với nhau.
Các nghiên cứu của các nhà giáo dục trên thế giới hầu hết đã nhận thấy rằng các kiểu dạy học trong mô hình BL đều xoay quanh bảy kiểu dạy học chính là: xoay vòng (Rotation), linh hoạt (Flex), tự kết hợp (Self- Blend) và nâng cao từ xa (Enriched Virtual). Kiểu dạy học xoay vòng gồm bốn kiểu dạy học đó là: xoay vòng theo trạm, xoay vòng theo phòng chức năng, lớp học đáo ngược và xoay vòng cá nhân (Fallis, 2013). Luan van 10 Hình 1. Các kiểu dạy học trong mô hình BL Mỗi kiểu dạy học đều có những cách thiết kế riêng biệt nhưng cốt lõi của nó vẫn là sự kết hợp giữa dạy học trực tiếp (mặt đối mặt) và dạy học trực tuyến (E-leanring).
Quan trọng hơn hết, tất cả các kiểu dạy học này đều phải có đầy đủ các thành phần của mô hình BL, nếu thiếu một trong năm thành phần này thì không được gọi là mô hình BL. Tùy theo nội dung bài học và trình độ của HS mà GV lựa chọn các kiểu dạy học sao cho phù hợp với HS, phù hợp với điều kiện nhân lực và trang thiết bị sẵn có tại trường học. Sau đây, chúng tôi sẽ đi sâu vào nội dung của từng kiểu dạy học. Xoay vòng theo trạm (Station - Rotation) Kiểu xoay vòng là một trong các kiểu dạy học của mô hình BL.
Trước khi tiến hành học tập theo kiểu xoay vòng, GV phải phổ biến cụ thể các quy định về thời gian tại mỗi trạm, lịch trình thực hiện tại các trạm, chia nhóm,. HS chia thành các nhóm nhỏ để thực hiện nhiệm vụ học tập tại các trạm mà GV đã quy định, HS sẽ thay đổi trạm khi đã hoàn thành xong nhiệm vụ tại trạm đó hoặc hết thời gian thực hiện tại trạm. Điểm khác biệt của kiểu dạy học xoay vòng theo trạm trong mô hình BL so với kiểu dạy học theo trạm trong dạy học truyền thống đó là GV phải thiết kế các trạm học tập sao cho phải có ít nhất một trạm là hoạt động trực tuyến (Staker & Horn, 2012).4, lớp học được chia làm 3 trạm, trong đó có 1 trạm là hoạt động trực tuyến, 2 trạm còn lại là hoạt động nhóm và GV hướng dẫn trực tiếp. Luan van 11 Hình 1.
Kiểu xoay vòng theo trạm 1. Xoay theo phòng chức năng (Lab - Rotation) Xoay theo phòng chức năng cũng tương tự như xoay vòng theo trạm, nhưng các trạm không còn bó buộc trong một lớp học nhất định mà nó có thể là các phòng chức năng như: phòng máy tính, phòng thí nghiệm, sân trường .5, lớp học được chia thành bốn trạm và các trạm được bố trí tại các phòng chức năng khác nhau nhưng vẫn phải đảm bảo có một phòng là hoạt động trực tuyến. Kiểu dạy học này đòi hỏi phải có nhiều GV, trợ giảng tham gia hỗ trợ vì HS thực hiện hoạt động học tập ở nhiều địa điểm khác nhau. Kiểu xoay vòng theo phòng chức năng 1.
Xoay vòng theo cá nhân (Individual - Rotation) Xoay vòng theo cá nhân là kiểu dạy học trong đó HS thực hiện nhiệm vụ tại các trạm theo sự sắp xếp của GV. HS không nhất thiết phải thực hiện nhiệm vụ ở tất cả Luan van 12 các trạm mà chỉ cần thực hiện theo sự chỉ định của GV. Ví dụ như ở hình 1.6, gồm có 273 học sinh nhưng được phân chia tại các trạm học tập khác nhau bao gồm: hoạt động trực tuyến, hướng dẫn trực tiếp, học tập theo dự án, thuyết trình,. Kiểu dạy học này cũng đòi hỏi đội ngũ GV dồi dào để cùng tham gia vào quá trình dạy học.
Kiểu xoay vòng theo cá nhân 1. Lớp học đảo ngược (Flipped - Classroom) Lớp học đảo ngược là kiểu dạy học mà HS tự học kiến thức mới ở nhà thông qua các tài liệu học tập mà GV cung cấp. Trên lớp học, GV sẽ giải đáp các thắc mắc của HS về kiến thức mới đó. Đồng thời, GV có thể hướng dẫn HS thực hành hoặc cho HS thảo luận nhóm, thuyết trình xung quanh các kiến thức mà HS đã học trước ở nhà.7 mô tả về kiểu lớp học đảo ngược, HS học nội dung bài mới ở nhà và làm bài thí nghiệm, bài tập trên lớp học.
Kiểu lớp học đảo ngược khá phù hợp với nền giáo dục của nước ta hiện nay, nó không đòi hỏi quá nhiều về đội ngũ GV cũng như cơ sở vật chất. Kiểu dạy học này giúp người dạy và người học tiết kiệm được thời gian trên lớp học, đặc biệt là giúp phát triển NLTH của HS. Đối với những kiến thức cơ bản, GV có thể thiết kế dưới dạng bài học trực tuyến để HS tự học ở nhà và dành thời gian trên lớp để rèn luyện cho HS các kĩ năng như: kĩ năng thực nghiệm, kĩ năng thuyết trình, … Luan van 13 Hình 1. Kiểu lớp học đảo ngược 1.
Linh hoạt (Flex) Kiểu linh hoạt là kiểu dạy học mà ở đó tất các hoạt động học tập đều diễn ra tại trường học, HS được phép học tập tại phòng máy tính, phòng thí nghiệm hoặc tại lớp học tùy theo nhu cầu và sở thích của HS.