CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM BỆNH SA SÚT TRÍ TUỆ VÀ ĐẶC ĐIỂM BỆNH ALZHEIMER 1.1 Đặc điểm bệnh sa sút trí tuệ (dementia) 1.1 Đặc điểm và phân loại: Theo [8], thuật ngữ “sa sút trí tuệ” được đưa ra lần đầu tiên bởi bác sĩ Philippe Pinel (1745 – 1826). Theo hội tâm thần Hoa Kỳ (Diagnostic and Statistical Manual of the American Psychiatric Association), sa sút trí tuệ (SSTT) là sự mất những khả năng trí tuệ (hay nhận thức) gây ảnh hưởng đến chức năng lao động và giao tiếp xã hội. Nó là một rối loạn của não bộ được đặc trưng bởi sự suy giảm nhận thức nhưng tình trạng ý thức vẫn bình thường và không có những rối loạn cấp tính hay bán cấp có thể gây ra suy giảm nhận thức. Theo [4], tình trạng suy giảm nhận thức mang tính nặng dần và không thể đảo ngược với những biểu hiện nổi bật và xuất hiện sớm nhất là sự suy giảm về trí nhớ, ngoài ra còn kèm theo các rối loạn khác như rối loạn nhận thức, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn khả năng cử động… Các số liệu dịch tễ học của y văn thế giới cho thấy: tỉ lệ bệnh sa sút trí tuệ chiếm khoảng 1% ở độ tuổi 65, nhưng chiếm tỉ lệ khá cao 5% trong độ tuổi trên 80.
Các dạng sa sút trí tuệ thường gặp là: - Bệnh Alzheimer (60%). - Sa sút trí tuệ mạch máu (20%). - Sa sút trí tuệ mạch máu kết hợp bệnh Alzheimer. - Sa sút trí tuệ thể Lewy (15%).
- Sa sút trí tuệ thuỳ trán. - Ngoài ra, còn một số dạng chiếm tỉ lệ thấp như: sa sút trí tuệ do nhiễm độc tố, sa sút trí tuệ do bệnh truyền nhiễm, sa sút trí tuệ do bất thường cấu trúc não bộ… Giảm trí nhớ là một biểu hiện của bệnh sa sút trí tuệ, tuy nhiên không phải tất cả các trường hợp giảm trí nhớ đều là bệnh này. Người cao tuổi thường hay quên, còn được gọi là tình trạng quên lành tính, có nhiều điểm khác với giảm trí nhớ trong bệnh sa sút trí tuệ. Giảm trí nhớ lành tính: Giảm trí nhớ đi kèm với lớn tuổi, chủ yếu suy giảm về trí nhớ ngắn hạn, do các thay đổi của thùy trán trước.
Nó bao gồm sự đãng trí, giảm khả năng tập trung và giảm khả năng giữ ý nghĩ lâu dài. Quên ngay một việc mình định làm, tìm không thấy đồ vật mình vừa đặt xuống, không nhớ mình đã làm việc đó chưa, quên tên của khách hàng mình mới gặp hôm qua, nhưng thường sau đó có thể nhớ lại được đầy đủ chi tiết. Quên từng lúc, thường hay quên hơn khi bị stress hoặc bị thúc giục. Có thể HVTH: HÀ THANH TUẤN 2 GVHD: PGS.TS TRẦN MINH THÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TPHCM nhớ bất cứ thứ gì nếu họ chú ý và học.
Dễ dàng giải quyết sự giảm trí nhớ này bằng các biện pháp nhắc nhở đơn giản (như viết một danh sách, gợi ý. Giảm trí nhớ làm cho bệnh nhân bực bội và cáu gắt, nhưng không bao giờ ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động nghề nghiệp và xã hội… là những biểu hiện thường gặp của loại giảm trí nhớ này. Thật là rất khó chịu khi trí nhớ ngắn hạn trở nên kém chính xác và chậm chạp, nhưng điều đó không phải là biểu hiện của bắt đầu bệnh lý thoái hóa não, và cũng không phải là không thể điều trị. Nguyên nhân của tình trạng này là do lão hóa, số lượng tế bào não và chất dẫn truyền thần kinh giảm dần khi tuổi càng lớn, dẫn đến chức năng thần kinh chậm đi.
Giảm trí nhớ bệnh lý: Đây là bệnh giảm mất trí nhớ bất thường, khác với giảm trí nhớ do có tuổi. Nó thường được chia làm hai nhóm: mất trí nhớ ngược chiều và mất trí nhớ xuôi chiều. - Mất trí nhớ ngược chiều là mất đi những hồi ức về quá khứ. Những người bị chấn thương đầu hoặc bị sốc do điện giật có thể bị mất hết trí nhớ về những điều trước khi họ bị sang chấn não, nhưng vẫn duy trì được khả năng nhớ những thông tin mới gần đây.
Đây là loại mất trí nhớ thường được mô tả trong các câu chuyện trên phim ảnh nhưng rất hiếm khi gặp trong thực tế. - Mất trí nhớ xuôi chiều là mất khả năng tạo được trí nhớ mới. Đối với bệnh nhân, tất cả mọi điều đều là mới mẻ, dù đó là những sự kiện, những con người mà họ đã gặp nhiều lần trước đây. Luôn phối hợp với giảm khả năng suy luận và tính toán.
Ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động nghề nghiệp và xã hội. Người bệnh có thể vẫn nhớ được những điều xảy ra trước khi họ bị mất trí nhớ nhưng họ không thể thêm vào được những thông tin mới. Nguyên nhân thường gặp của loại mất trí nhớ này là chấn thương, tai biến mạch máu não, viêm não, và bệnh Alzheimer. Vị trí tổn thương chính ở vùng hải mã thùy thái dương.2 Nguyên nhân gây sa sút trí tuệ [4], [5] Thuật ngữ sa sút trí tuệ “trước tuổi già” (khởi phát trước 65 tuổi) và sa sút trí tuệ “tuổi già” thường được dùng vào những năm 1960 và 1970.
Vào thời điểm đó, bệnh Alzheimer được xem là nguyên nhân chính của sa sút trí tuệ “trước tuổi già” (thường xảy ra ở độ tuổi trung niên), còn sa sút trí tuệ “tuổi già” được nghĩ là do xơ vữa mạch máu não. Tuy nhiên các nghiên cứu về giải phẩu bệnh sau này trên các mẫu não các bệnh nhân đã chứng tỏ rằng sa sút trí tuệ “tuổi già” cũng có các thay đổi bệnh học điển hình của bệnh Alzheimer. HVTH: HÀ THANH TUẤN 3 GVHD: PGS.TS TRẦN MINH THÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TPHCM Quan điểm hiện nay, bệnh Alzheimer vẫn là nguyên nhân phổ biến nhất của sa sút trí tuệ ở mọi lứa tuổi (trên và dưới 65 tuổi). Nhưng một điều quan trọng cần biết là không phải tất cả sa sút trí tuệ đều là bệnh Alzheimer.
Hội chứng sa sút trí tuệ được chia làm nhiều nhóm bệnh khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân, bệnh học, đặc điểm hoá-thần kinh và điều trị. Các nguyên nhân chính của sa sút trí tuệ được trình bày trong bảng 1.1: Các nguyên nhân chính của sa sút trí tuệ Trong các nguyên nhân trên, bệnh Alzheimer là nguyên nhân thường gặp nhất. Theo các nghiên cứu gần đây, các yếu tố mạch máu có thể góp phần phát triển sa sút trí tuệ trong bệnh Alzheimer. Sa sút trí tuệ căn nguyên mạch máu (VaD) là nguyên nhân phổ biến thứ 2 của sa sút trí tuệ.
Một số ý kiến cho rằng, tỉ lệ bệnh Alzheimer và VaD khác nhau ở các khu vực. Ở châu Âu và Bắc Mỹ, trên 50% trường hợp sa sút trí tuệ là bệnh Alzheimer, 12 – 30% trường hợp là VaD. Nhưng ở các nước châu Á, VaD thường gặp hơn, chiếm đến 60% trường hợp sa sút trí tuệ. Các dạng khác còn lại của sa sút trí tuệ chiếm tỉ lệ nhỏ hơn.
Tần suất tương đối của các dạng sa sút trí tuệ thường gặp được trình bày trong bảng 1.2 với hai nhóm trước và sau 65 tuổi. HVTH: HÀ THANH TUẤN 4 GVHD: PGS.TS TRẦN MINH THÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TPHCM Bảng 1.2: Tần suất các dạng sa sút trí tuệ thường gặp 1.3 Đặc điểm lâm sàng của sa sút trí tuệ [4] Dựa trên mức độ nặng nhẹ và thời gian mắc phải, người ta phân sa sút trí tuệ làm 3 giai đoạn: Giai đoạn sớm: triệu chứng nổi bật là giảm trí nhớ gần (hay trí nhớ ngắn hạn). Người bệnh sẽ quên chỗ cất đồ dùng cá nhân, nói chuyện thì lặp đi lặp lại một câu nhiều lần, mất đi khả năng diễn đạt một số từ ngữ. Sinh hoạt hằng ngày như đi lại, lái xe, quản lí nhà cửa, tiền bạc khó khăn.
Sự thay đổi về nhân cách, rối loạn cảm xúc, suy giảm khả năng nhận xét cũng là những biểu hiện của sa sút trí tuệ trong giai đoạn sớm. Giai đoạn nhẹ và trung bình: bệnh nhân mất dần khả năng tự thực hiện các sinh hoạt hằng ngày như tắm rửa, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân…hoặc thực hiện một cách khó khăn. Người bệnh không thể tiếp thu thông tin mới, không thể tự định hướng không gian và thời gian. Bệnh nhân không thể nhận thức người và vật xung quanh.
Việc đi lại rất khó khăn, thường té ngã. Các rối loạn về hành vi, nhân cách cũng biểu hiện trong giai đoạn này. Giai đoạn nặng: bệnh nhân mất hoàn toàn khả năng sinh hoạt bình thường, phải nhờ vào sự giúp đỡ của người thân. Các loại trí nhớ gần, xa đều bị xoá hết, không thể nhận biết cả người thân trong gia đình.
Bệnh nhân không thể đi lại, các hoạt động hô hấp, dinh dưỡng cũng bị rối loạn. Sức đề kháng kém dần, dẫn đến dễ bị nhiễm trùng hô hấp, tiết niệu… và cuối cùng dẫn đến tử vong.4 Chuẩn đoán sa sút trí tuệ 1.1 Chuẩn đoán lâm sàng:[3], [5], [6] Sa sút trí tuệ có thể bắt đầu cấp tính, ví dụ sau một tai biến mạch máu não. Khởi phát có thể bán cấp như trong CJD (bệnh Prion). Nhưng điển hình nhất là sa sút trí tuệ khởi phát từ từ mãn tính như trong bệnh Alzheimer.
Trong giai đoạn sớm của sa sút trí HVTH: HÀ THANH TUẤN 5 GVHD: PGS.TS TRẦN MINH THÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TPHCM tuệ, các thay đổi thường nhẹ và do đó chuẩn đoán thường bị trễ cho đến khi bệnh tiến triển sang giai đoạn trung bình. Do đó, một bệnh sử được hỏi cẩn thận và đầy đủ từ bệnh nhân, vợ chồng, người thân và bạn bè là điều rất cần thiết. Sự đánh giá trạng thái thần kinh bao gồm sự đánh giá về khả năng định hướng, ngôn ngữ, trí nhớ, thị giác không gian và một số chức năng cao cấp hơn như: khả năng tính toán, trừu tượng … Các chuẩn đoán sa sút trí tuệ được thực hiện dựa trên bộ tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ của tổ chức sức khoẻ thế giới WHO như ICD-10 (International Classification of Diseases) hoặc của Hoa Kỳ như DSM-IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fourth Edition). Các dấu hiệu phát hiện được trong thăm khám có thể giúp gợi ý nguyên nhân sa sút trí tuệ.
Ví dụ sa sút trí tuệ kèm dấu thần kinh khu trú có thể do nguyên nhân bệnh lý mạch máu não. Khám lâm sàng bao gồm đánh giá sự thức tỉnh, các chức năng nhận thức, khám thần kinh và khám tổng quát các cơ khác.