CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU DE TÀI VÀ CO SỞ LÝ LUẬN VE KHUNG NĂNG LUC VÀ UNG DỤNG KHUNG NĂNG LUC VÀO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài Nghiên cứu về khung năng lực và ứng dụng khung năng lực vào hoạt động quản trị nhân sự đã bước đầu được chú trọng trong những năm gần đây. Đã có nhiều bài viết, công trình khoa học có giá trị được công bố trên các tạp chí khoa học, các hội thảo, các đề tài nghiên cứu khoa học, cũng như trong các sách chuyên khảo có liên quan. Trong phạm vi đề tài luận văn, tác giả thấy có ba nhóm vấn đề đã được nhiều cá nhân và tổ chức tập trung nghiên cứu.
Đó là những vấn đề về khung năng lực và xây dựng khung năng lực, ứng dụng khung năng lực vào đánh giá nhân viên từ đó đưa ra chương trình đào tạo và phát triển. * Những vấn đề về khung năng lực và xây dựng khung năng lực, ở nước ngoài đã được được nghiên cứu va ứng dụng như là: - Chính phủ Vương Quốc Anh đã đưa ra kế hoạch cải cách dịch vụ dân sự và hệ thống quản lý thực hiện băng sáu năng lực cốt lõi ( theo CIPD năm 2001). Bao gồm có: 1/ Xác định rõ mục đích và định hướng tô chức theo mục dich 2/ Gây ảnh hưởng và thê hiện qua lãnh đạo làm gương 3/ Tư duy chiến lược, phát triển ý tưởng mới và tận dụng cơ hội dé đạt được mục tiêu 4/ Khuyến khích và hỗ trợ người khác phát huy hết khả năng để đạt được thành tích tốt nhất 5/ Học tập và phát triển: liên tục cải tiến kết quả 6/ Hướng đích: đạt kết quả cuối cùng Nhà lãnh đạo luôn phải đạt chuẩn trên 5 nhóm năng lực này mới đảm bảo được sự thành công trong công việc. Các chương trình đào tạo đạt chân lãnh đạo công của Anh cũng hướng tới những chuẩn nay.
* Những đề tài nghiên cứu khoa học trong nước về khung năng lực và ứng dụng khung năng lực cho công tác đánh giá, đào tạo chiến lược như: - Đề tài cấp Nhà nước "Nghiên cứu nhu cầu và đề xuất giải pháp phát triển nhân lực lãnh đạo, nâng cao năng lực cán bộ quản lý khu vực hành chính công vùng Tây Bắc giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030" do PGS.TS Phùng Xuân Nha, Giám đốc DHQGHN, Chủ nhiệm Chương trình khoa học trọng điểm cap Nhà nước phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc (gọi tắt là Chương trình Tây Bắc) làm Chủ nhiệm ( năm 2014). Mục đích của đề tài nghiên cứu nhằm đề xuất được giải pháp phát triển nhân lực lãnh đạo, quản lý khu vực hành chính công cho vùng Tây Bắc gắn với đặc thù địa phương phù hợp với phát triển bền vững và hộinhập quốc tế. Đề tài sẽ bàn giao các sản phâm chính bao gồm: Cơ sở dữ liệu về nhu cầu nhân lực lãnh đạo quản lý cấp tỉnh, huyện vùng Tây Bắc giai đoạn tới (về số lượng, chất lượng); bộ khung năng lực và các công cụ ứng dụng khung năng lực vào đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ các chức danh lãnh đạo quản lý cấp tỉnh, huyện; tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh và huyện theo yêu cầu của Đề án vị trí việc làm của các tỉnh vùng Tây Bắc phục vụ ban hành các quyết định của UBND các tỉnh; báo cáo đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu theo khung năng lực của đội ngũ lãnh đạo cấp tỉnh và huyện vùng Tây Bắc phục vụ công tác xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giai đoạn tới và Kế hoạch, nội dung chương trình, gắn với ngân sách, phương pháp. đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh và huyện vùng Tây Bắc nhiệm kỳ 2015-2020.
Vũ Anh Dũng; PGS. Phùng Xuân Nha với bài viết đăng trên Chuyên san Kinh tế và Kinh doanh, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, số 27 (tháng 12/2011), tr.248-255: “Tích hợp chuẩn đầu ra theo cách tiếp cận CDIO vào đề cương môn học trong khung chương trình đào tạo”. CDIO là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Conceive - Design - Implement - Operate, nghĩa là: hình thành ý tưởng, thiết kế ý tưởng, thực hiện và vận hành. CDIO là một đề xướng xuất phát từ ý tưởng của các khối ngành kỹ thuật thuộc trường Dai hoc Kỹ thuật Massachusetts, Mỹ phối hợp với các trường đại học Thụy Điển.
CDIO xác định chuẩn đầu ra, trên cơ sở đó sẽ thiết kế chương trình đào tạo. Quy trình này được xây dựng một cách khoa học, logic, có thé áp dụng cho nhiều lĩnh vực đào tạo. Đây là một phương pháp luận giúp giải quyết được hai vấn đề then chốt là: dạy sinh viên điều gì (Dạy cái gì ?) và làm thé nao dé sinh viên lĩnh hội được tri thức (Dạy như thé nảo ?). Với mô hình này, tác giả bài viết hy vọng chương trình CDIO sẽ trở thành một trong những chương trình dao tạo sinh viên đạt chuẩn và phù hợp với nhu cầu của xã hội.
- Tác giả Ngô Quý Nhâm có bài viết tư vấn chiến lược ( cho công ty OCD, viết năm 2010 ) với nội dung: “ Khung năng lực và ứng dụng trong hoạt động quản trị nhân sự”. Nội dung đề tài đề cập đến vấn đề lý thuyết năng lực, khung năng lực, cấu trúc của khung năng lực, ứng dụng của khung năng lực trong hoạt động quản tri nhân sự. Đồng thời đề tài cũng gợi ý cách thức xây dựng và triển khai khung năng lực trong tổ chức. Ứng dụng cũng gợi ý các từ điển, mô hình khung năng lực đã được công bồ trên thế giới có thé sử dụng linh hoạt vào ứng dụng khung năng lực nhân sự tại Việt Nam.
- Đinh Văn Tuấn, luận văn thạc sỹ kinh tế (2013), “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích nhu cầu đào tạo (TNA) dựa trên năng lực cho đào tạo cán bộ, công chức tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang”. Luận văn đưa ra phương pháp và thực tiễn xây dựng khung năng lực và ứng dụng khung năng lực trong phân tích nhu cầu đảo tạo cho cán bộ khu vực công tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên đề tài chưa đủ đại diện cho toàn thể đối tượng nghiên cứu, không thê phát triển giải pháp xây dựng một kế hoạc đào tạo tông thé cho cán bộ, công chức huyện Lục Nam, tinh Bắc Giang do ứng dụng ngay mô hình khung năng lực của Chính phủ Vương Quốc Anh nên chưa được sát tình hình thực tiễn. - Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về năng lực, khung năng lực, ứng dụng khung năng lực và đánh giá cán bộ khá nhiễu.
Tuy nhiên, van đề xây dựng khung năng lực và ứng dụng khung năng lực vào công tác đào tạo tại doanh nghiệp, đặc biệt trong ngành đầu tư và dịch vụ đô thị là chưa được đề cập. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả lựa chọn đề tài “Ủng dụng khung năng lực vào công tac đào tạo nhân lực tại công ty cỗ phan dau tư và dich vụ đô thị Việt Nam (VINASINCO)” với mong muôn đề xuất khung năng lực chung cho đội ngũ cán bộ, nhân viên tại doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả mong muốn có những giải pháp cụ thể, mang tính khả thi nhăm hoàn thiện công tác đào tạo nhân lực, qua đó mang lại hiệu quả tích cực đến hoạt động kinh doanh tại công ty Cô phần đầu tư và dịch vụ đô thị Việt Nam. Cơ sở lý luận về khung năng lực và ứng dụng khung năng lực vào công tác đào tạo nhân lực của doanh nghiệp 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Năng lực Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu, các học giả đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Trên thế giới thì có định nghĩa về “Năng lực” của 2 nhà nghiên cứu Bernard Wynne và David Stringer là khá rõ ràng, dễ hiểu và dé vận dụng trong công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực. Theo Bernard Wynne và David Stringer trong tác phẩm “Tiếp cận Dao tạo và Phát triển dưới góc độ Năng lực” năm 1997 thì “Năng luc bao gồm kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ tích luỹ được của một cá nhân sử dụng dé đạt được các kết quả mà công việc của họ doi hoi” [ L7, tr.
Nói theo cách khác thì năng lực được thê hiện qua kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ mà con người tích luỹ được và áp dụng để đạt được kết quả trong công việc của mình. Như vậy, năng lực được gắn với kết quả đầu ra của công việc, chứ không phải yếu tố đầu vào. Một người có thé có đủ các yếu tố đầu vào như bằng cấp chính quy, kiến thức, kỹ năng nhưng không đạt được kết quả đầu ra mong muốn của công việc, thì cũng chưa phải là người có năng lực; ngược lại, khi một người hoàn thành tốt công việc, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của doanh nghiệp thì người đó được coi là có năng lực. Dé có năng lực đòi hỏi người đó phải có đủ các yếu tổ cần thiết (như kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi) và kết hợp chúng một cách thành công dé hoàn thành được công việc được giao.
Việc gan năng lực với kết qua đầu ra của công việc giúp chúng ta có thé dé dàng trong việc đánh giá năng lực hơn. Các định nghĩa đều xác định năng lực là các đặc điểm cá nhân của một cá nhân nào đó cho phép tạo ra chất lượng thực thi công việc tốt. Theo tác giả Anne Bourhis xuất bản cuốn sách “Quản lý tài nguyên con người: Cảnh báo và tình hình” xuất bản năm 2000, định nghĩa năng lực như sau “Năng lực là sự kết hợp đồng thời những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để hoàn thành tốt một vai trò hay một công việc được giao”. Có thể hiểu rằng, năng lực là khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó một cách đầy đủ và có chất lượng.
Nang lực thể hiện bằng hành vi có thé quan sát, đo lường trong điều kiện làm việc. Năng lực chỉ được xác định trong hành động vào chỉ có thé nhận biết năng lực của một cá nhân qua công việc người đó làm. Nang lực là một thuộc tính cá nhân, phụ thuộc vào bối cảnh.