Mở đầu những năm 90, một số trường đại học và viện nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu thử nghiệm công nghệ điều khiển giao thông đô thị, các nghiên cứu này chủ yếu học lý luận và ý tưởng từ hệ thống điều khiển tín hiệu tiên tiến của các nước phát triển như Mỹ, Anh, Úc như TRANSIT; SCOOT, SCATS. Từ đó thí điểm tại các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải, Nam Kinh. Đồng thời Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Dương và Hàng Châu lần lượt nhập hệ thống điều khiển của Anh và Úc như SCOOT và SCATS. Đầu 1996, Bộ Khoa học Công nghệ tiến hành một loạt các hoạt động hợp tác và giao lưu trên lĩnh vực ITS, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển ITS trong nước.
Ngân sách trọng điểm quốc gia Trung Quốc trong năm 1996 được dùng để nghiên cứu hệ thống ITS. Năm 1997-1998, Trung Quốc và liên minh Châu Âu hợp tác cung cấp thông tin, trao đổi kinh nghiệm và tổ chức các hội nghị ITS ở Bắc Kinh và Brussels, những cuộc trao đổi rất bổ ích cho việc nắm rõ tác dụng của ITS trong giới kỹ thuật và các giới liên quan khác của Trung Quốc. Trong thời kỳ đổi mới “95”, Bộ Giao thông Trung Quốc đề ra “tăng cường phát triển và nghiên cứu ITS Trung Quốc”, kết hợp thành quả quốc tế và Trung Quốc, phân giai đoạn triển khai hệ thống điều khiển giao thông, hệ thống thông tin lái xe, điều độ phương tiện với hệ thống đạo hàng, hệ thống an toàn phương tiện cùng quản lý thu phí tổng cộng 5 mục tiêu lớn cần triển khai nghiên cứu, công trình hóa và tập hợp hệ thống, trên cơ sở này áp dụng thành thục thành tựu khoa học công nghệ vào việc cung cấp sản phẩm và công nghệ. Trong giai đoạn này rất nhi ều chuyên gia đã 10 quan tâm tới thành quả nghiên cứu kiến trúc hệ thống của nước ngoài, tự tiến hành nghiên cứu phân tầng không trùng lặp để góp ý triển khai nghiên cứu kiến trúc hệ thống của ITS Trung Quốc.
Sau khi trưng tập ý kiến, năm 1999, Bộ Khoa học Công nghệ xác định nội dung tăng cường các nhánh khoa học công nghệ liên quan và cho phép trung tâm nghiên cứu công nghệ ITS quốc gia thuộc Sở Khoa học công nghệ đường bộ, Bộ Giao thông chủ trì nghiên cứu, tập trung hơn 100 chuyên gia từ các trường đại học, viện, nhà máy và bộ phận liên quan tham gia nghiên cứu các nhánh liên quan ITS. Tới cuối năm 2000 việc nghiên cứu các nhánh được hoàn thành, qua tiếp thu ý kiến và chỉnh sửa trên mọi phương diện, tháng 9/2001 chính thức được kiểm định và nghiệm thu. Trong thời kỳ “15” Bộ Khoa học Công nghệ phát động thực hiện chương trình “15” nhánh khoa học công nghệ trọng điểm, lớn nhất là “Hệ thống giao thông thông minh điển hình và triển khai”. Nhánh này thông qua triển khai công nghệ then chốt, xây dựng môi trường và ứng dung mẫu, giải quyết trọng điểm điều khiển giao thông, tập hợp thông tin dịch vụ, thông tin cự li ngắn chuyên dụng, đường bộ thông minh và các tiêu chuẩn quy phạm.nghiên cứu mô thức và công nghệ phát triển ITS phù hợp đặc điểm Trung Quốc, vì sự phát triển của ITS Trung Quốc, đặt cơ sở ứng dụng và công nghiệp hóa, thúc đẩy công nghiệp chế tạo và phục vụ phát triển, tiếp cận công nghệ cao cải tạo nhà máy truyền thống, thông qua thông tin hóa đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa.
Tháng 9/2006, Bộ khoa học công nghệ tổ chức thực hiện chương trình công nghệ “1015” trong đó “Mẫu ứng dụng tập hợp công nghệ ITS quốc gia” là chương trình quan trọng, trọng điểm của chương trình là nghiên cứu bố cục cung cấp dịch vụ giao thông vận tải nhân tính hóa, phát triển công nghệ thông minh hóa hệ thống giao thông và công nghệ giao thông vận tải an toàn cao, kết hợp phục vụ thế vận hội Bắc Kinh 2008, hội chợ Thượng Hải 2010 và Á vận hội Quảng Châu, dựa trên các công trình lớn mạng đường cao tốc thu phí không dừng TQ và dịch vụ cùng hệ thống vận tải Logistic.Từ đó thực hiện tổng hợp ứng dụng xây dựng công nghệ ITS, hình thành hệ thống tiêu chuẩ n quy phạm và hệ thống đánh giá, nâng cao năng 11 lực sáng tạo công nghệ, góp phần phát triển công nghiệp, thúc đẩy hình thành hệ [4] thống mới.3 Kiến trúc tổng thể hệ thống ITS ITS là các hệ thống lớn, phức tạp được cấu thành từ nhiều hệ thống chức năng khác nhau. Mô hình kiến trúc và một số công nghệ sử dụng chính trong ITS GIS Big Data Cơ sở dữ liệu quốc gia giao thông Cloud IoT Trung tâm điều hành giao thông Giao thông Camera quan Điều khiển đèn Thông tin giao Bãi đỗ xe Xử phạt ATGT công cộng sát tín hiệu thông Hình 1.1 - Kiến trúc tổng thể hệ thống ITS Một số hệ thống ITS chính chúng ta thường nghe đến và hay được sử dụng như: Hệ thống camera dùng trong giám sát, xử phạt trật tự vi phạm an toàn giao thông Hệ thống điều khiển đèn tín hiệu giao thông thông minh Hệ thống Trung tâm chỉ huy, điều hành giao thông Hệ thống chỉ dẫn giao thông thông minh: biển báo VMS, ứng dụng. Hệ thống bãi đỗ xe thông minh Hệ thống tương tác, hỗ trợ lái xe và xe Hệ thống thu phí tự động và thanh toán điện tử trong giao thông 12 Trung tâm Quản lý Sensor Camera Mô phỏng Radio/Loa VMS điều khiển bãi đỗ Thu thập dữ liệu Quản lý giao thông Cung cấp thông tin giao thông Dữ liệu Quản lý Quản lý Điều khiển Loop Application Web GPS cao tốc VMS đèn Hình 1.2 - Mô hình hệ thống ITS 1.4 Đánh giá tổng quan về lợi thế và tầm quan trọng của hệ thống ITS Nhìn chung, các lĩnh vực ứng dụng hệ thống giao thông thông minh có thể bao gồm: hoạt động của xe cộ, máy bay và tàu thủy, phòng chống tai nạn và an toàn, thanh toán và định giá điện tử, quản lý các tình huống khẩn cấp, quản lý đường cao tốc, quản lý sự cố, quản lý thông tin, vận chuyển hàng hóa đa phương thức, quản lý thời tiết đường, khai thác và bảo trì đường bộ, quản lý vận chuyển quá cảnh, thông tin du lịch. ITS cung cấp dịch vụ cho mọi người sử dụng công lập và tư nhân.
Người sử dụng các lĩnh vực ứng dụng hoặc dịch vụ ITS bao gồm cả khách du lịch, người đi đường dễ bị tổn thương, người sử dụng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ và các nhà vận hành, quản lý đội tàu và các nhà khai thác các dịch vụ cấp cứu. Hệ thống giao thông thông minh ITS tích hợp công nghệ viễn thông, điện tử và công nghệ thông tin với kỹ thuật giao thông để lập kế hoạch, thiết kế, khai thác, bảo trì và quản lý các hệ thống giao thông. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và thông tin liên lạc cho ngành vận tải đường bộ và giao diện của nó với các phương thức vận tải khác sẽ đóng góp đáng kể cho việc cải thiện hiệu suất, hiệu quả của môi trường, bao gồm cả hiệu quả năng lượng, sự an toàn và an ninh của vận tải đường bộ, kể cả việc vận chuyển hàng nguy hiểm, an ninh công cộng và vân chuyển hành khách và vận tải hàng hóa, đồng thời đảm bảo các chức năng của thị trường nội địa cũng như mức độ tăng khả năng cạnh tranh và việc làm.2 Tổng quan dịch vụ thu phí điện tử ETC (Electronic Toll Collection) 1.1 Tóm lược quá trình lịch sử của thu phí đường bộ Việc thu phí sử dụng đường bộ có mục đích bù đắp một phần vốn đầu tư và / hoặc vốn duy trì, bảo dưỡng đường. Từ năm 1962 với Nghị định số 83 -CP, ngày 01-8-1962; Hội đồng Chính phủ cho phép thu lệ phí sửa chữa đường bộ.
Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ, việc thu phí giao thông đã bị ngừng lại. Từ năm 1991, việc thu tiền sử dụng đường bộ lại tiếp tục thực hiện. Từ bước đầu dưới dạng thu thủ công trực tiếp khi người sử dụng đi qua nơi thu phí cầu, đường bộ. Dần dần công việc được cải tiện và hệ thống các trạm thu phí các loại đã hình thành từng bước.
Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mạng lưới các trạm thu phí đường bộ toàn quốc với 62 trạm. Cơ chế thu phí tại các trạm này được thực hiện theo các Thông tư của Bộ Tài chính. Do cần huy động nhiều nguồn lực và để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, nên nước ta đã có những chính sách khuyến khích các nhà đầu tư theo hình thức BOT, cho phép các nhà đầu tư được thu phí sau khi công trình cầu đường được hoàn thiện để hoàn vốn. Vì vậy hiện có hai loại phí đường bộ khác nhau là thu theo công trình do nhà nước đầu tư và thu theo công trình đầu tư theo BOT.
Mức thu đối với BOT bằng hai lần mức thu phí của nhà nước. Đến 2004, trên hệ thống quốc lộ có 53 trạm thu phí các loại. Từ khi thực hiện Nghị định số 18/2012/NĐ-CP ngày 13/3/2012 của Chính phủ về Quỹ bảo trì đường bộ, nhiều trạm thu phí trên quốc lộ đã được gỡ bỏ. Tuy nhiên, vẫn còn một số trạm trên quốc lộ vì những lý do khác nhau và vẫn còn những đề nghị thu phí mới, ví dụ, thu phí trên Đại lộ Thăng Long.
Vì vậy việc xác định, lựa chọn các thiết bị công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình thu phí thuận tiện, an toàn và hiệu quả cần phải được tiến hành ngay. Căn cứ vào đó để triển khai thống nhất và đồng bộ hóa thiết bị công nghệ cũng như quy trình thu trên toàn bộ mạng lưới trạm thu phí quốc lộ đặc biệt là các tuyến quan trọng và các tuyến đối ngoại; làm sao trong một tương lai gần, thu phí ở Việt Nam trở nên thuận tiện, văn minh và hiện đại. 14 Hệ thống thu phí tự động không dừng (Electronic Toll Collection - ETC) là một trong những hình thức được triển khai ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Nhờ ưu điểm “không dừng” nên hệ thống ETC góp phần giảm ùn tắc, giảm chi phí quản lý và hạn chế tiêu cực trong thu phí.
Đây là một trong những biện pháp hiệu quả để giải quyết bài toán thu phí giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, trong phát triển ITS, hệ thống ETC được chú trọng, là xu hướng phát triển tất yếu trong giao thông đường bộ hiện đại.