Luận Văn Thạc Sĩ: Ứng Dụng Hàm Green Trong Mô Phỏng Lan Truyền Sóng Thần Khu Vực Biển Đông Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus ứng dụng hàm green trong mô phỏng lan truyền sóng thần khu vực biển đông việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Chuyên ngành

Vật lý Địa cầu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

62
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU SÓNG THẦN Ở VIỆT NAM

1.1. Sơ lược về nghiên cứu sóng thần ở Việt Nam

1.2. Nghiên cứu cổ sóng thần

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH VÀ MÔ PHỎNG LAN TRUYỀN SÓNG THẦN

2.1. Mô hình nguồn phát sinh sóng thần

2.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận

2.3. Phương pháp hàm Green

2.4. Biểu diễn minh họa

2.5. Dịch chuyển của đáy biển dưới tác động của điểm lực trong nửa không gian đàn hồi

2.6. Kích hoạt sóng thần trong lớp nước vô hạn

2.7. Hàm kích hoạt và tạo thủy triều

2.8. Kích hoạt sóng thần từ nguồn hữu hạn

2.9. Kích hoạt sóng thần trong lớp nước nửa vô hạn (semi-infinite)

2.10. Mô hình phẳng phức tạp (không đồng nhất)

3. CHƯƠNG 3: CÁC KỊCH BẢN ÁP DỤNG MÔ PHỎNG TÍNH TOÁN LAN TRUYỀN SÓNG THẦN ĐẾN BỜ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM

3.1. Xây dựng các kịch bản lan truyền sóng thần

3.2. Ảnh hưởng của sóng thần đến bờ biển và hải đảo Việt Nam

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng hàm Green trong mô phỏng sóng thần

Hàm Green là một công cụ quan trọng trong việc mô phỏng lan truyền sóng thần, đặc biệt là trong khu vực Biển Đông Việt Nam. Việc áp dụng hàm Green giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về cơ chế lan truyền sóng và ảnh hưởng của chúng đến các vùng bờ biển. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn trong việc dự báo và ứng phó với thiên tai.

1.1. Hàm Green và vai trò trong mô phỏng sóng thần

Hàm Green được sử dụng để giải các phương trình vi phân trong mô hình sóng thần. Nó cho phép tính toán sự lan truyền của sóng từ nguồn phát sinh đến các điểm khác nhau trên bờ biển. Việc áp dụng hàm Green giúp tối ưu hóa quá trình mô phỏng và nâng cao độ chính xác của các dự báo.

1.2. Tình hình nghiên cứu sóng thần ở Biển Đông

Nghiên cứu sóng thần ở Biển Đông đã được chú trọng hơn sau thảm họa sóng thần năm 2004. Các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu để đánh giá nguy cơ và tác động của sóng thần đến bờ biển Việt Nam. Việc áp dụng hàm Green trong nghiên cứu này đã mang lại nhiều kết quả khả quan.

II. Thách thức trong mô phỏng sóng thần tại Biển Đông

Mô phỏng sóng thần tại Biển Đông đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự phức tạp của địa hình và các yếu tố khí tượng. Những yếu tố này ảnh hưởng đến độ chính xác của các mô hình dự báo. Việc hiểu rõ các thách thức này là cần thiết để cải thiện các phương pháp mô phỏng và dự báo.

2.1. Địa hình và cấu trúc đáy biển

Địa hình phức tạp của Biển Đông, bao gồm các đứt gãy và cấu trúc đáy biển, ảnh hưởng lớn đến sự lan truyền của sóng thần. Các mô hình cần phải tính đến những yếu tố này để có được kết quả chính xác hơn.

2.2. Tác động của khí tượng đến sóng thần

Các yếu tố khí tượng như gió và áp suất có thể làm thay đổi hướng và độ cao của sóng thần. Việc tích hợp các yếu tố này vào mô hình là một thách thức lớn trong nghiên cứu sóng thần.

III. Phương pháp mô phỏng sóng thần bằng hàm Green

Phương pháp mô phỏng sóng thần bằng hàm Green đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu. Phương pháp này cho phép tính toán chính xác sự lan truyền của sóng từ nguồn phát sinh đến các khu vực khác nhau. Việc sử dụng hàm Green giúp tối ưu hóa quá trình mô phỏng và nâng cao độ chính xác của các dự báo.

3.1. Cơ sở lý thuyết của phương pháp hàm Green

Phương pháp hàm Green dựa trên các nguyên lý vật lý cơ bản, cho phép mô phỏng sự lan truyền sóng trong môi trường nước. Các nhà nghiên cứu đã phát triển nhiều mô hình khác nhau dựa trên phương pháp này để cải thiện độ chính xác của dự báo.

3.2. Ứng dụng thực tiễn của phương pháp

Phương pháp hàm Green đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu thực tiễn, giúp đánh giá tác động của sóng thần đến bờ biển và hải đảo Việt Nam. Kết quả từ các mô phỏng này cung cấp thông tin quan trọng cho công tác phòng chống thiên tai.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu từ việc áp dụng hàm Green trong mô phỏng sóng thần đã chỉ ra nhiều thông tin quan trọng về sự lan truyền và tác động của sóng thần đến bờ biển Việt Nam. Những kết quả này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong công tác dự báo và phòng chống thiên tai.

4.1. Đánh giá tác động của sóng thần đến bờ biển

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sóng thần có thể gây ra thiệt hại lớn cho bờ biển Việt Nam. Việc đánh giá tác động này là cần thiết để xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

4.2. Đề xuất giải pháp phòng chống thiên tai

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các giải pháp phòng chống thiên tai đã được đề xuất. Những giải pháp này nhằm giảm thiểu thiệt hại do sóng thần gây ra và bảo vệ an toàn cho người dân.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu ứng dụng hàm Green trong mô phỏng sóng thần đã mở ra nhiều triển vọng mới cho việc dự báo và phòng chống thiên tai tại Biển Đông. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện độ chính xác của mô hình và tích hợp thêm các yếu tố khí tượng.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các mô hình mới và cải thiện các phương pháp hiện có. Điều này sẽ giúp nâng cao khả năng dự báo và ứng phó với sóng thần.

5.2. Hướng đi mới trong nghiên cứu sóng thần

Các hướng đi mới trong nghiên cứu sóng thần có thể bao gồm việc áp dụng công nghệ mới và phát triển các mô hình tích hợp. Những nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống thiên tai.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về nghiên cứu sóng thần ở Việt Nam Chương 2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận về xây dựng mô hình và mô phỏng lan truyền sóng thần. Các kịch bản áp dụng mô phỏng tính toán lan truyền sóng thần đến bờ biển và hải đảo việt nam LUAN VAN CHAT LUONG download4 : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Mai Xuân Bách, 2011 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU SÓNG THẦN Ở VIỆT NAM 1.

Sơ lƣợc về nghiên cứu sóng thần ở Việt Nam Trƣớc khi xảy ra thảm hoạ sóng thần ngày 26-12-2004 gây ra bởi động đất Mw=9,0 ở Sumatra, thì nghiên cứu sóng thần ở nƣớc ta chƣa đƣợc chú ý nhiều. Lần đầu tiên việc khảo sát, đánh giá sóng thần đƣợc tiến hành cho vùng bờ biển Nghệ An-Hà Tĩnh phục vụ việc xây dựng khu gang thép Thạch Khê (Nguyễn Đình Xuyên và cộng sự, 1984). Nghiên cứu này đã đƣa ra các kết luận sau: 1/ Ở vùng bờ biển này đã từng và có khả năng xảy ra sóng thần cao tới 3m nguyên nhân không phải động đất mà có thể là nguồn gốc khí tƣợng, … 2/ Động đất có khả năng phát sinh ở các đứt gãy trên vùng thềm lục địa có thể gây sóng thần cao không quá 2m ở vùng bờ biển này. Tuy nhiên những nhà nghiên cứu chƣa chú ý đến các nguồn sóng thần trong vùng Biển Đông.

Muộn hơn, vào những năm 90, vấn đề sóng thần đƣợc một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Phạm Văn Thục (1995, 1998, 2000, 2001, 2007) đã dựa vào các kết quả nghiên cứu sóng thần trên thế giới, đặc biệt là khu vực Thái Bình Dƣơng, và nghiên cứu hoạt động động đất trong vùng Biển Đông, đƣa ra một số nhận định về sóng thần trong vùng Biển Đông và ảnh hƣởng đến vùng bờ biển nƣớc ta: Vùng quần đảo Philippinne là một vùng có hoạt động động đất rất cao, vùng Biển Đông và dải ven bờ nƣớc ta có thể chịu ảnh hƣởng của nguồn sóng thần duy nhất từ các động đất thuộc trũng sâu và vùng chồng gối (đới hút chìm) Manila. Nguyễn Ngọc Thuỷ (2005) cũng có nhận định định tính, sơ bộ về khả năng sóng thần ở vùng bờ biển nƣớc ta. Gần đây, sau thảm hoạ sóng thần Sumatra, vấn đề sóng thần đƣợc đặc biệt chú ý.

Về quan điểm địa chấn thì khu vực Đông Nam Á bị bao bọc bởi 2 vành đai động đất lớn nhất hành tinh: Ở phía Đông là phần cuối của vành đai Thái Bình Dƣơng, kéo dài hàng nghìn km từ Đài Loan qua quần đảo Philippin đến Đông Timo; ở phía Tây và Nam là phần cuối của vành đai Địa Trung Hải-Hymalaya kéo dài hàng nghìn km từ vịnh Bengal đến Đông Timo, ôm lấy quần đảo Indonesia. LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Mai Xuân Bách, 2011 Động đất mạnh và rất mạnh xảy ra thƣờng xuyên trên các vành đai này. Với cơ chế dịch chuyển chờm nghịch, các đới hút chìm này là nguyên nhân gây ra các thảm hoạ sóng thần tại khu vực Đông Nam Á (Nguyễn Đình Xuyên và nnk, 2007). Tuy khu vực Đông Nam Á và quanh vành đai Thái Bình Dƣơng đã xảy ra nhiều động đất gây sóng thần lớn song nhờ sự che chắn của các cung đảo bao quanh nên các sóng thần này đã không gây ảnh hƣởng tới bờ biển và hải đảo Việt Nam.

Các nhà địa chấn Việt Nam và thế giới đều khẳng định rằng nguy cơ sóng thần tác động đến bờ biển và hải đảo Việt Nam chủ yếu là từ đới hút chìm Manila (Philippin) và các động đất mạnh xảy ra trong phạm vị Biển Đông Việt Nam. Theo thống kê có đƣợc thì chỉ tính từ năm 1627 đến nay đã có đến 62 trận sóng thần ghi nhận đƣợc đã xảy ra trong phạm vị Biển Đông Việt Nam và Tây, Tây Nam Philippin. Đại đa số các sóng thần (cụ thể là 41 sóng thần) đã xuất hiện tại biển Luzon, Sulu, Celebes và Taal. Số còn lại chủ yếu phân bố tại khu vực phía Bắc, Đông Bắc và Đông Biển Đông.

Chỉ có sóng thần ngày 5/1/1992 là nằm về phía Tây Bắc Biển Đông (toạ độ: 18,00N; 108,00E).1: Vị trí xảy ra sóng thần khu vưc Đông nam châu Á LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Mai Xuân Bách, 2011 Hình 1.2: Vị trí chấn tâm động đất khu vực Đông nam châu Á Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về sóng thần mới nhất ở Việt Nam cho thấy: - Đới hút chìm Manila là nơi có nguy cơ xuất hiện động đất mạnh gây sóng thần tác động đến bờ biển tiếp giáp với Biển Đông Việt Nam nhƣ bờ biển Nam Trung Quốc, bờ biển Đông Việt Nam, Brunay và Malaysia. Mức độ ảnh hƣởng của sóng thần có nguồn Manila đến các điểm trên đƣờng bờ của mỗi nƣớc này sẽ khác nhau, phụ thuộc vào độ mạnh của động đất gây ra sóng thần và khoảng cách từ chấn tâm tới đƣờng bờ quan sát sóng thần. Đới hút chìm tây Philippin (đới Manila) có chiều dài trên 1000 km, có thể gây ra động đất có độ lớn 8,85 độ Richter (theo công thức Well & Copersmith, 1994). Đây là nguồn xa có nguy cơ xuất hiện động đất gây sóng thần ảnh hƣởng đến hải đảo và bờ biển Việt Nam.

LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Mai Xuân Bách, 2011 - Các nguồn sóng thần đƣợc ghi nhận có toạ độ nằm sát với đƣờng bờ biển Nam Trung Quốc và đặc biệt là sát với đƣờng bờ biển Việt Nam lại trùng với đới động đất mạnh thuộc ven bờ Biển Đông Việt Nam và Trung Quốc. Nhƣ vậy, ngoài yếu tố sóng thần lan truyền tới từ nguồn Manila còn có yếu tố của sóng thần vùng gần đƣờng bờ tác động đến bờ biển nƣớc ta. Theo các nhà địa chấn Việt Nam thì nguy cơ xuất hiện động đất gây sóng thần tại các đới phát sinh trong vùng Biển Đông Việt Nam là: Đới Huyện Nhai - Văn Ninh – Châu Giang – Bắc Hoàng Sa; Đới đứt gãy kinh tuyến 1100; và Đới Thuận Hải – Minh Hải – Nam Côn Sơn. Nghiên cứu cổ sóng thần 1.

Tài liệu lịch sử Theo Đại Nam Thực lục chính biên (37 tập) thì trận động đất năm 1877 đƣợc ghi nhận nhƣ sau: tháng 9 năm 1877, tại Bình Thuận, “Động đất, từ đấy đến tháng 12 tất cả 3 lần, lần đầu nƣớc sông cuốn lên, nhà ngói cũng rung động, hai lần sau nhẹ hơn”. Trận động đất này đƣợc các nhà địa chấn Viện Vật lý Địa cầu đánh giá chỉ có 5,1 độ Richter, tuy vậy theo số liệu của NOAA thì có Ml =7,0 độ Richter, gây sóng to. Liệu có phải động đất đã gây nên sóng thần địa phƣơng hay không?. Tài liệu điều tra trong nhân dân Kết quả điều tra sóng thần trong nhân dân dọc ven biển Việt Nam (Nguyễn Đình Xuyên và nnk…, 2005; lƣu VLĐC) cho thấy ngoài sóng bão, thuỷ triều, nƣớc dâng, đã phát hiện một số hiện tƣợng sóng lớn? mà các tác giả gọi là sóng thần có nguồn gốc khác: - “Năm 1978 sóng thần đã thực sự xuất hiện ở vùng bờ biển Trà Cổ, Móng Cái.

Sóng cao 3-5 m đã tràn vào bờ nhiều đợt, làm nứt tƣờng nhà, đổ các hàng cây phi lao ven bờ”. -“Theo ghi chép của TS Armand Krempt năm 1923 sóng thần đã phá hỏng chuồng ngựa của bác sĩ Alexandre Yersin. Vị trí chuồng ngựa cách bờ biển 5-6m. Sự cố này liên quan với phun trào núi lửa ở đào Hòn Tro.

Vùng biển nam Trung Bộ và Nam Bộ là vùng hoạt động núi lửa hiện đại. Năm 1923 phun trào núi lửa diễn ra ở đảo Hòn Tro trong quần đảo Phú Quý đã gây động đất núi lửa 6,1 độ Richter. LUAN VAN CHAT LUONG download8 : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Mai Xuân Bách, 2011 Năm 1960, 1963 hoạt động núi lửa lại diễn ra nhƣng yếu hơn. Việc phun trào núi lửa Hòn Tro gây sóng thần cho thấy hoạt động núi lửa cũng là một nguồn sóng thần đáng chú ý trong vùng biển Đông”.

-“Theo lời kể của những ngƣời cao tuổi, vào cuối thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20, hiện tƣợng sóng thần cũng đã xảy ra ở Diễn Châu (Nghệ An). Sóng cao nhƣ sóng bão xảy ra ở đây năm 1984” (5-10 m). -“Một hiện tƣợng đáng chú ý nữa đã xảy ra ở Tuy Hoà, Nha Trang ngày 4/5 năm 1991, trƣớc ngày núi lửa Pinatubo, Philippin, phun trào. Nƣớc biển rút ra xa, nhiều tàu nhỏ lộ trên bãi cát, mọi ngƣời sợ hãi chạy vào bờ, không hiểu là hiện tƣợng gì xảy ra.

Một lúc sau nƣớc lại trở lại nhƣng do đứng xa nên không rõ cao hơn hay bằng mực nƣớc ban đầu. Ông Đỗ Minh Tiệp, một ngƣời trong đoàn cán bộ địa chất khảo sát, đào hố lấy mẫu ở bờ biển, những ngƣời chứng kiến hiện tƣợng, đánh giá: nƣớc đã rút 2m so với mức bình thƣờng. Nhiều ngƣời dân cũng chứng kiến hiện tƣợng này và đều tỏ ra sợ hãi. Sáng ngày 5/5 toàn bộ vùng Khánh Hoà bị bao phủ một lớp tro bụi dày vài mm đến vài cm, đó là tro bụi từ núi lửa Pinatubo”.

Nguyễn Đình Xuyên và các đồng nghiệp (2005) đã lý giải các sự kiện điều tra đƣợc nhƣ sau: - “Sự kiện ở Trà Cổ diễn ra trong không gian hẹp, có tính địa phƣơng, không liên quan với sự cố động đất nào. Phân tích sơ bộ dẫn đến kết luận, đây là hiện tƣợng sóng thần nguồn gốc khí tƣợng: ở vùng tâm bão hay lốc xoáy, xa vùng biển Trà Cổ, do áp suất khí quỷên thấp, nƣớc biển dâng cao trên diện rộng. Khi áp suất khí quyển thay đổi đột ngột vì những nguyên nhân khác nhau, quả đồi nƣớc này xụp suống bởi trọng lực gây ra sóng trọng lực, tức sóng thần”. Nghi ngờ có thể đƣợc đặt ra là liệu có thể có một cơn lốc xảy ra trong thời tiết rất đẹp không? hay là một cơn sóng thần địa phƣơng, gắn với một động đất gần mà ta chƣa điều tra đƣợc?.

Nếu nƣớc biển dâng cao trên diện rộng thì chắc chắn sẽ gây ngập lụt trên một diện rộng, chí ít cũng sẽ quan sát thấy ở cả khu vực Hải Phòng, thậm chí có thể ở Thanh Hoá, Nghệ An hay xa hơn nữa về phía Nam. - Đối với sóng cao ở Diễn Châu các tác giả này cũng cho rằng do nguyên nhân khí tƣợng song cũng chƣa chứng minh đƣợc rằng đã có hiện tƣợng khí tƣợng LUAN VAN CHAT LUONG download9 : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Mai Xuân Bách, 2011 nào xảy ra vào lúc bấy giờ. Thế thì liệu có nguyên nhân nào khác nữa, nhƣ sóng thần chẳng hạn?.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ