Mở đầu Ứng dụng enzyme trong chiết xuất các hợp chất sinh học và đa dạng hóa các sản phẩm từ tỏi “ Mục đích nghiên cứu: Khảo sát điều kiện hoạt động thích hợp của enzyme trong chiết xuất hợp chất từ tỏi. Ứng dụng enzyme trong chế biến các sản phẩm từ tỏi Đánh giá hoạt tính sinh học của sản phẩm tỏi. 2 Tổng quan tài liệu PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây tỏi 1.
Đặc điểm thực vật và phân loại Cây tỏi có tên khoa học là Allium sativum L. Các gọi thường gặp là Tỏi ta (Việt Nam), Garlic (Anh, Mỹ), Ail (Pháp), Knoblauch (Đức) [3]. Tỏi ta là tên gọi cây tỏi được sử dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Về phân loại thực vật tỏi thuộc: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Liliopsida Phân lớp: Liliopsida Bộ: Asparagales Họ: Alliaceae Phân họ: Allioideae Tông: Allieae Chi: Allium Loài: A.
sativum Cây tỏi thuộc loài thảo nhỏ, thân thực hình trụ, phía dưới mang nhiều rễ phụ, phía trên mang nhiều lá. Lá cứng, hình dải, thẳng dài 15 – 50 cm, rộng 1- 2,5 cm có rãnh khía, mép lá hơi ráp. Ở mỗi nách lá phía gốc có một chồi nhỏ sau này phát triển thành một tép tỏi, các tép này nằm chung trong một cái bao (do các bẹ lá trước đó tạo ra) thành một củ tỏi tức là thân hành (giò) của tỏi. Hoa xếp thành tán ở ngọn 3 Tổng quan tài liệu thân trên một cánh hoa dài 55cm hay hơn.
Bao hoa màu trắng hay hồng bao bởi một cái mo dễ rụng tận cùng thành mũi nhọn dài. Củ tỏi có kích thước trung bình 2-4 cm, có màu trắng, mỗi củ có từ 12-20 tép tỏi [4].Tỏi thích hợp với nhiệt độ 60 độ đến 70 độ F, đất thông thoáng không ứ nước, có tính axit nhẹ. Tỏi được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới, ở Việt Nam tỏi được trồng chủ yếu ở Lý Sơn (Quảng Ngãi), Ninh Thuận, Kim Môn (Hải Dương), Gia Lâm (Hà Nội). Cây tỏi Lý Sơn: Được trồng chủ yếu tại huyện đảo Lý Sơn, vùng đất được hình thành do quá trình hoạt động của núi lửa và do sự bồi đắp của cát biển.
Củ tỏi Lý Sơn có kích thước nhỏ, tép tỏi vừa, màu trắng, mùi vị cay nồng, thơm, ăn xong có vị ngọt dịu nhẹ. Năm 2009, tỏi Lý Sơn được Cục Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam công nhận thương hiệu. Bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao áp (HPLC) với detector PDA đã xác định được hàm lượng allicin của tỏi Lý Sơn là 0,767% cao hơn tỏi ta (0,712%) và tỏi Trung Quốc (0,670%) [5]. Cao chiết toàn phần tỏi thu hái tại đảo Lý Sơn có tác dụng ức chế tăng cholesterol và triglycerid trong máu động vật thí nghiệm trên cả hai phương pháp tăng cholesterol nội sinh và ngoại sinh, tác dụng này mạnh hơn tỏi ta và tỏi Trung Quốc [6].
Thành phần hóa học và một số hợp chất chính 1. Thành phần hóa học Về phương diện dinh dưỡng và trị liệu củ tỏi có tính sát trùng do có chứa các hợp chất sulfur, giúp tạo cảm giác thèm ăn do kích thích vị giác và trợ tiêu hóa[7]. Thành phần hóa học trong củ tỏi thể hiện trong bảng 1.1 4 Tổng quan tài liệu Bảng 1.1 Thành phần hóa học trong củ tỏi Thành phần hóa học (100g) Nước (%) 65 Protein (g) 6, 39 Lipid (g) 0, 5 Glucid (g) 1 Magie (mg) 25 Canxi (mg) 181 Phospho (mg) 153 Kẽm (mg) 1, 16 Kali (mg) 401 Mangan (mg) 1, 67 Natri (mg) 17 Vitamin C (mg) 31, 2 Selen (µg) 14, 2 Axit folic (Vitamin B9) (µg) 3 Vitamin B6(mg) 1, 23 Axit pantothenic (Vitamin B5) (mg) 0, 59 Niacin (Vitamin B3) (mg) 0, 7 Riboflavin(Vitamin B2) (mg) 0, 11 Thiamin (Vitamin B1) (mg) 0, 2 Betacaroten (µg) 5 1. Một số hợp chất chính a/ Allicin Năm 1947, Stoll và Seebeck đã phân lập được một amino acid chứa lưu huỳnh từ tỏi và đặc tên là alliin [8].
Bản thân alliin không có hoạt tính kháng khuẩn và tương đối bền. Vì alliin có hai nguyên tử bất đối nên có thể có bốn đồng phân quang học, 5 Tổng quan tài liệu nhưng trong tỏi chỉ thấy có một đồng phân (+) –S–allyl–L–cystein sulfoxide. Alliin là hợp chất đầu tiên được tìm thấy trong thiên nhiên chứa một nguyên tử lưu huỳnh và một nguyên tử carbon bất đối. Alliin có hàm lượng 5 đến 14 mg trong một gram tỏi tươi.
Do có nhóm amin, carboxyl, liên kết đôi, nên alliin có khả năng phản ứng hóa học rất cao. Trong các điều kiện phản ứng khác nhau, alliin dễ dàng bị chuyển hóa để tạo ra các sản phẩm. Một trong những phản ứng chuyển hóa cơ bản và quan trọng nhất là sự tạo thành allicin dưới tác dụng của enzyme allinase [8]. Sự chuyển hóa này xảy ra cực kỳ nhanh ở nhiệt độ phòng chỉ trong vòng 10 giây.
Allinase có mặt trong tỏi với lượng lớn khác thường đối với một enzyme, gồm ít nhất 10% protein tổng số của tép tỏi. Các tép tỏi chứa các lượng allinase và alliin xấp xỉ bằng nhau (10mg/g trọng lượng tươi). Điều này có thể giải thích rõ tại sao alliin lại chuyển hóa thành các thiosulfide quá nhanh khi tỏi được ép ra [9].1 Công thức cấu tạo Allicin Ở điều kiện bình thường, trong các tế bào nguyên vẹn của tỏi, allinase và alliin bị tách biệt về mặt vật lý: các enzyme allinase tồn tại trong không bào trong khi alliin tồn tại ở tế bào chất. Tuy nhiên khi tép tỏi bị nghiền nát hoặc bị tổn thương, thì hai phân tử này có mặt ở cùng một nơi xảy ra phản ứng.
Do đó cắt càng nhỏ hoặc càng đập nát, dịch tỏi có hoạt tính càng cao. Allicin là hợp chất có tính kháng sinh mạnh. Allicin không phải là cấu tử hiện diện tự nhiên trong tỏi mà nó được hình thành S-Allylcystein sulfocide hay alliin. Bản thân alliin không có tác dụng kháng khuẩn nhưng dưới tác dụng của enzyme allinase có sẵn trong tỏi sẽ tạo thành allicin – một ankyl thiosulfinate.
Allicin có vai trò kháng khuẩn và kháng nấm. Quá trình chuyển hóa hình thành allicin được thể hiện trong sơ đồ sau. 6 Tổng quan tài liệu Hình 1.2 Sơ đồ chuyển hóa hình thành Allicin Alliin là một chất kết tinh, không màu, tan được trong nước và hầu như không mùi ; ngược lại Allicin là chất lỏng không màu, có mùi tỏi mạnh có khối lượng riêng (d= 1,112 g/cm3). Khi cho kết hợp với kiềm thì allicin tạo thành allyl disulfide kết tủa.
Allicin khi kết hợp với cystein hoạt tính sinh học của nó không tồn tại do tạo nên chất mới, chất này không mang đặc tính giống allicin. b/ Hợp chất Diallyl disulfide Hình 1. 3 Công thức cấu tạo Diallyl disulfide Diallyl disulfide một hợp chất có tên gọi là organosulfur. Organosulfur là một chất lỏng màu vàng, không hòa tan trong nước và có mùi tỏi mạnh, có nhiệt độ sôi 138 o C -139oC và là hợp chất không phân cực nên chúng hòa tan tốt trong các dung môi không phân cực.
Diallyl disulfide được tạo ra trong quá trình phân hủy của allicin, được hình thành khi nghiền tỏi và cây trồng khác họ Alliaceae. Hợp chât Diallyl disulfide khi tăng nhiệt độ sẽ phân hủy tạo ra hỗn hợp chứa nhiều cấu tử khác nhau. Diallyl disulfide có nhiều lợi ích sức khỏe bởi tính kháng khuẩn song nó cũng là một chất gây dị 7 Tổng quan tài liệu ứng. Trong công nghiệp thực phẩm, Diallyl disulfide được sử dụng để giữ mùi vị cho thịt, rau và trái cây.
Thành phần hóa học của tỏi đã công bố ở tài liệu [7] có chứa allicin, diallyl disulfide, diallyl trisulfide, ajoene…Và cũng chứng minh được allicin, diallyl disulfide, ajoene… là những hợp chất có khả năng kháng khuẩn cao, có tính chất quyết định khả năng kháng khuẩn của dịch chiết tỏi. Mặt khác xét về mặt tính chất thì allicin là chất không màu, dễ bị oxy hóa làm cho hoạt tính kháng khuẩn giảm đi nhiều. Còn diallyl disulfide là chất có màu vàng, bền hơn allicin. Bằng phương pháp đo quang phổ có thể xác định được hàm lượng của diallyl disulfide ở bước sóng λmax= 240 nm [10].
c/ Hợp chất ajoene: Hình 1.4 Công thức Ajoene Ajoene là hỗn hợp của hai đồng phân E, Z – 4, 5, 9 – trithiadodeca – 1, 6, 11-triene – 9 oxide. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng ajoene có nhiều thuộc tính quan tâm trong y học hiện nay. Nó có chức năng như một chất chống oxy hóa, bằng cách ức chế superoxide. Ajoene cũng có khả năng chống huyết khối (chống đông máu), giúp ngăn chặn sự kết cụm của tiểu cầu hình thành cục máu đông, có khả năng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch và đột quỵ ở người.
Ajoene cũng được biết là hợp chất có phổ kháng khuẩn rộng (kháng khuẩn và kháng nấm), là chất ngăn ngừa nhiễm nấm men (Candida albicans) hiệu quả. Ajoene thậm chí đã được chứng minh hiệu quả trong việc ức chế tăng trưởng tế bào khối ung thư [11]. 8 Tổng quan tài liệu 1. Hoạt tính sinh học Tỏi đã được xem như là một loại thảo dược từ xa xưa.
Tác dụng dược lý chính của tỏi là do các hợp chất organosulfur. Các nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng tỏi có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, chống ký sinh trùng, kháng virus, chất kháng oxy hóa, cũng như chống huyết khối và chống ung thư. Nó cũng có tác dụng giảm cholesterol trong huyết tương, giảm huyết áp và giảm kết tập tiểu cầu[12]. Hoạt tính kháng khuẩn Khả năng kháng khuẩn là một trong những đặc tính đầu tiên được nghiên cứu ở tỏi.
Tỏi đã được chứng minh là ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn gram âm, gram dương và kháng acid cũng như các loại sản xuất độc tố. Những vi khuẩn mà tỏi có hiệu quả bao gồm các chủng Pseudomonas, Proteus, Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Klebseilla, Salmonella, Micrococcus, Bacillus subtilis, Mycobacterium và Clostridium. Một vài trong số các vi khuẩn đó kháng Penicillin, Streptomycin, Doxycilline và Cephalexin. Gần đây có báo cáo là chiết xuất từ tỏi có tác dụng diệt vi khuẩn Streptococcus mutans, Streptococcus sobrinus, Porphyromonas gingivalis và Prevotella intermedia (vi khuẩn gram dương) là những vi khuẩn gây sâu răng và bệnh nha chu.
Chất có hoạt động kháng khuẩn của tỏi là chợp chất sulfur có nguồn gốc từ allicin như DAS, DADS và ajoene cũng như các thiosulfinate khác được phân lập từ tỏi ngâm dầu. Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh DAS và DADS từ tỏi có thể bảo vệ chống lại nhiễm trùng Helicobacter pylori, vì vậy giảm nguy cơ tổn thương tăng sinh trong dạ dày[13].