ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm gan là một bệnh lý gây ra bởi nhiều tác nhân, có thể dẫn tới các hậu quả nguy hiểm như xơ gan, ung thư gan và phần lớn có thể dẫn tới tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Các nguyên nhân hàng đầu gây bệnh gan trên toàn cầu thường là viêm gan do thuốc, viêm gan do rượu, viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, viêm gan do virus [102]. Một nghiên cứu về sự thay đổi dịch tễ học các bệnh gan năm 2016 chỉ ra ở khu vực Đông Nam Á bao gồm Việt Nam có tỷ lệ nhiễm HBV và HCV lần lượt là 3,8% và 1,7% (giảm 29% và 29,6% với năm 2006); tỷ lệ nhiễm bệnh gan do rượu là 1. Như vậy, HBV, HCV và rượu vẫn là nguyên nhân chính gây ra bệnh gan ở khu vực Đông Nam Á, tuy nhiên gan nhiễm mỡ do rượu và tổn thương gan do thuốc đang ngày càng tăng dẫn đến gia tăng các biến chứng xơ gan và ung thư gan [181].
Thống kê của Tổ chức y tế thế giới năm 2020 cho thấy, tỷ lệ mắc mới ung thư gan tại Việt Nam nằm trong top 6 quốc gia và tỷ lệ tử vong do ung thư gan nằm trong Top 15 quốc gia cao nhất thế giới [148]. Các bệnh về gan là mối quan tâm của sức khỏe cộng đồng vì các phương pháp điều trị thông thường mang lại kết quả hạn chế với các tác dụng phụ kèm theo. Việc thiếu các phương pháp điều trị hiệu quả và số lượng bệnh nhân mắc bệnh gan ngày càng tăng đã đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu đối với các thuốc điều trị mới, hiệu quả và ít tác dụng không mong muốn. Stress oxy hóa có vai trò lớn trong phát sinh bệnh lý tại gan.
Các nghiên cứu đã chứng minh được vai trò của stress oxy hóa trong bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, bệnh gan do thiếu máu cục bộ, bệnh gan do rượu, xơ gan, viêm gan siêu vi và tổn thương gan do thuốc. Do vậy, liệu pháp chống oxy hóa có thể có lợi trong việc kiểm soát các bệnh gan và là một trong những hướng đi trong nghiên cứu phát triển thuốc mới trong điều trị bệnh gan. Việt Nam với nguồn dược liệu đa dạng phong phú với nền y học cổ truyền có hệ thống lý luận chặt chẽ và kinh nghiệm trong việc sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa bệnh. Nhiều loài dược liệu có tác dụng bảo vệ tế bào gan đã được sử dụng trong dân gian để phòng và điều trị các bệnh lý gan.
Tỏi (Allium sativum L.) là cây được trồng rộng rãi để làm gia vị ở nhiều nơi ở nước ta bên cạnh đó tỏi còn được dùng làm thuốc chữa một số bệnh như cảm cúm, đầy bụng, khó tiêu, lỵ trực khuẩn, lỵ amib…[3]. Trong tỏi chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học, trong đó nhiều nhóm hoạt chất đã được chứng minh có tác dụng dược lý. Dịch chiết tỏi có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, bảo vệ tim mạch, chống ung thư [45],[103],[185], [193]. Một số nghiên cứu gần đây trên thế giới cho thấy tinh dầu tỏi và một số thành phần từ tinh dầu tỏi có khả năng bắt giữ các gốc tự do invitro cũng như tăng hoạt động các enzym chống oxy hóa invivo [84], [136].
Thêm vào đó, dịch chiết 1 tỏi và các thành phần từ dịch chiết tỏi còn có khả năng bảo vệ tế bào gan khỏi các tác nhân xơ hóa gan hoặc gây độc trên gan [48]. Tuy nhiên tại Việt nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác dụng, chống oxy hóa bảo vệ gan của tỏi. Nhằm xây dựng căn cứ khoa học trong việc đánh giá tác dụng và tiềm năng nghiên cứu phát triển thuốc bảo vệ tế bào gan từ loài tỏi trồng tại Việt Nam, đề tài: “Đánh giá tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ tế bào gan và độc tính của cao đặc tỏi (Allium sativum L.) trên thực nghiệm” được thực hiện với các mục tiêu: 1. Đánh giá được tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ gan của cao đặc tỏi.
Đánh giá được độc tính cấp và bán trường diễn của cao đặc tỏi. TỔNG QUAN VỀ GAN VÀ BỆNH GAN 1. Gan và chức năng của gan Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể, có hai thùy phải và trái, được bao bọc bởi một bao sợi liên kết gọi là bao Glison. Ở người trưởng thành, gan có thể nặng 1,4 – 1,6 kg, chiếm 2,5% trọng lượng cơ thể [51].
Gan có thể được mô tả theo hai cách, theo giải phẫu hình thái hoặc theo giải phẫu chức năng [11]. Đơn vị chức năng của gan là tiểu thùy, kích thước từ 0,5 – 1mm, gồm một tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy, từ đó các dãy tế bào gan lan tỏa ra hình nan hoa. Giữa các tiểu thùy là khoảng cửa có các nhánh động mạch gan, tĩnh mạch cửa và ống mật [2]. Giữa các dãy tế bào gan là các xoang mao mạch lót bởi tế bào nội mô và tế bào Kupffer [38].
Gan là một cơ quan quan trọng, nó liên quan đến gần như mọi hệ cơ quan trọng cơ thể [69]. Gan có chức năng là một trung tâm chuyển hóa vừa hấp thu chất dinh dưỡng vừa thải trừ nhiều chất trước khi phân phối vào hệ thống tuần hoàn chung [15]. Các nhóm chức năng chính của gan bao gồm: (1) Bài tiết mật; (2) Chuyển hóa bilirubin; (3) Chức năng trên máu và mạch máu; (4) Chuyển hóa chất dinh dưỡng; (5) Giải độc (độc tố, hormon, thuốc); (6) Dự trữ khoáng chất và vitamin (sắt, đồng, vitamin A, D, E, K, B12); (7) Chức năng nội tiết (hoạt hóa vitamin D, chuyển hóa hormon tuyến giáp, bài tiết angiotensinogen, chuyển hóa hormon); (8) Chức năng miễn dịch (thành phần của hệ thống lưới nội mô, bất hoạt chất độc và thuốc) [117]. Các bệnh lý về gan Có thể phân loại bệnh lý gan dựa trên thời gian tổn thương, được xác định bởi các bất thường trong chức năng gan được thể hiện thông qua các xét nghiệm sinh hóa.
Tổn thương tối cấp tính là một rối loạn rất nghiêm trọng dẫn đến suy gan trong vòng 6 tuần [117]. Tổn thương cấp tính là tổn thương của tế bào gan trong vòng sáu tháng và tổn thương mạn tính xảy ra khi các bất thường kéo dài trên nửa năm [12], [31], [180]. Bệnh lý gan cũng có thể được phân loại theo nguyên nhân, bao gồm virus, vi khuẩn/kí sinh trùng, bệnh chuyển hóa bất thường do gen, bệnh gan do thuốc/chất độc, nguyên nhân tự miễn, mạch máu, ung thư,… [1]. Phân loại bệnh lý gan cũng có thể được trình bày theo tình trạng bệnh phổ biến thường gặp [117]: Viêm gan Viêm gan xảy ra do nhiều nguyên nhân trong đó phổ biến nhất là do virus hoặc nghiện rượu.
Viêm gan virus có nhiều dạng, thường gặp nhất là viêm gan B, A và C. Viêm gan B và C có thể trở thành viêm gan mạn tính và dẫn đến xơ gan [144]. 3 Xơ gan Xơ gan là một tình trạng tổn thương gan mạn tính lan rộng, tiến triển và không thể hồi phục, trong đó hoạt động của tế bào gan bị suy giảm do có quá nhiều mô sẹo xơ ngăn cản sự tưới máu đến các tế bào gan. Sự tắc nghẽn trong lưu thông máu có thể gây tăng áp lực tĩnh mạch cửa và dẫn đến các biến chứng khác (bao gồm phát triển tuần hoàn bàng hệ, giãn tĩnh mạch, cổ trướng, rối loạn đông máu, loãng xương, xơ gan và ung thư gan) [161].
Bệnh gan do rượu (ALD) Bệnh gan do rượu có 3 dạng chính, bao gồm gan nhiễm mỡ, viêm gan và xơ gan do rượu. Ba tình trạng trên có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc xảy ra đồng thời trong cùng thời điểm trên một bệnh nhân. Gan nhiễm mỡ là tình trạng phổ biến nhất, đặc trưng bởi chất béo được tích tụ trong tế bào gan, xảy ra sớm, không triệu chứng và có thể hồi phục. Viêm gan do rượu trên lâm sàng có thể từ không triệu chứng đến sốt nặng, đau bụng và buồn nôn.
Ở dạng cấp tính, viêm gan có thể gây tử vong, trong khi dạng mạn tính thường dẫn đến xơ gan do rượu. So với xơ gan do các nguyên nhân khác, xơ gan do rượu thường đe dọa đến tính mạng và có tỉ lệ tử vong cao [184], [186], [191]. Ung thư gan (HCC) Ung thư gan là một bệnh lý rất nguy hiểm. Các khối u gan ác tính được chia thành hai loại, bao gồm khối u gan nguyên phát và khối u do di căn.
Ung thư biểu mô tế bào gan là dạng ung thư gan nguyên phát thường gặp nhất. Bệnh nhân ung thư gan do di căn hầu hết tử vong trong vòng 1 năm sau khi được chẩn đoán [130], [194]. Dịch tễ các bệnh về gan Theo thống kê sức khỏe toàn cầu năm 2014 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính có khoảng 2,4 triệu ca tử vong hàng năm liên quan đến các bệnh về gan, tử vong do xơ gan chiếm khoảng 800.000 trường hợp trong số đó [116]. Một báo cáo khác của WHO năm 2015 công bố khoảng 325 triệu người trên thế giới mắc bệnh viêm gan virus.
Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) cũng là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và tử vong. Mới đây vào tháng 4 năm 2023, một tổng quan hệ thống thực hiện bởi Zobair M. Younossi và cộng sự báo cáo rằng tỉ lệ NAFLD trên thế giới tăng từ 27,78% ở giai đoạn 2011 – 2015 đến 38,20% trong giai đoạn 2016 – 2019 [186]. Việt Nam nằm trong nhóm 28 quốc gia có tỉ lệ lưu hành virus viêm gan B cao nhất trên toàn thế giới.
Bộ Y tế năm 2017 ước tính rằng số người Việt mắc virus viêm gan B mạn tính lên tới 7,8 triệu người, trong khi virus viêm gan C là gần 1 triệu. Báo cáo này cũng công bố số ca tử vong hàng năm liên quan đến viêm gan virus B và C lần lượt là khoảng 33. Bệnh gan cấp và mạn tính đều phổ biến ở mọi khu vực. Mặc dù đã có những tiến bộ của y học hiện đại cũng như sự phát triển của các loại thuốc bảo vệ gan, song tỷ lệ mắc 4 cũng như gánh nặng toàn cầu của các bệnh về gan không những không có dấu hiệu suy giảm, mà còn được dự đoán là tiếp tục tăng lên trong thời gian tới [18], [95].
Các thông số xét nghiệm đánh giá tổn thương và chức năng của gan Do sự đa dạng các chức năng được thực hiện bởi gan, có rất nhiều dấu hiệu sinh hóa để đánh giá mức độ tổn thương và sự suy giảm về chức năng của cơ quan này.