MỞ ĐẦU Rau quả là nguồn cung cấp các chất có hoạt tính sinh học, đặc biệt là các hợp chất có hoạt tính kháng oxy hóa, có lợi cho sức khỏe con người (Shui và Leong, 2006; Wang và Lin, 2000). Theo nghiên cứu của Mohammed va cộng sự (2013) cho rang các hop chất kháng oxy hóa trong khế gồm: các hợp chat phenolic (1429 — 2099 „g/g nguyên liệu tươi), proanthocyanidins (896 — 1321 wg/g nguyên liệu tươi), các hợp chat flavonoid (103 — 148 zg/g nguyên liệu tuoi), Vitamin C (144 — 190 pe/g nguyên liệu tươi). Ngoài ra còn cung cấp chất khoáng và nhiều vitamin khác như vitamin Ba, vitamin A, vitamin E (USDA 2010). Trên thé giới cây khế được nghiên cứu khá kỹ va được trồng như một cây ăn quả có giá trị.
Các quốc gia đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu cây khế như Malaysia, Đài Loan, Mỹ, Brasil, Nam phi, .đã phát triển nghé trồng khế rất thành công và thương mại hóa các sản phẩm quả khế (Nakasone H.E Paul, 1999), Tuy nhiên, quả khế Việt Nam vẫn chưa được đánh giá cao. Sản xuất khế của nước ta vẫn ở tình trạng tự phát. Thời gian gần đây một số giống khế mới ra đời đã khơi dậy nghề trồng khế ở nước ta song vẫn chưa xứng với tiềm năng và giá trị nhiều mặt của loài cây rất gần gũi này. Hiện tại quả khế dùng để ăn tươi là chủ yếu, chưa có các sản phẩm từ quả khé trên thị trường Sử dụng enzyme pectinase để xử lý dịch quả được nhiều tác giả nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm dé làm tăng hiệu suất, tăng hàm lượng chất răn hòa tan hoặc cải thiện tính năng kỹ thuật của sản phẩm như làm tăng độ trong, tăng độ màu, giảm độ nhớt hoặc giảm cặn lang trong quá trình bảo quản sản phẩm.
Theo nghiên cứu Abdullah và cộng sự (2007), đã tối ưu hóa điều kiện xử ly enzyme pectinex Ultra SP-L trên dịch quả khế nhằm làm trong dich quả, tăng độ màu và giảm độ nhớt. Đến nay, chưa có các công bố khoa học về sử dụng chế phẩm enzyme pectinase để thu nhận dịch quả khế giàu hợp chất kháng oxy hóa. Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu “ứng dụng chế phẩm enzyme pectinase để thu nhận dịch quả khế giàu hợp chất kháng oxy hóa” được thực hiện nhằm góp phần đa dạng hóa các sản phẩm từ quả khé. CHUONG 1: TONG QUAN 1.
Tổng quan về quả khé 1. Nguồn gốc, phân loại Quả khế có tên khoa học là Averrhoa carambola, là một trong những trái cây nhiệt đới thuộc về dòng Oxalidace. Tên đồng nghĩa: Averrhoa acutangula Stokes, Averrhoa pentandra Blanco, Connaropsis philippica Villar. Tên phố biến: Carambola, Coolie Tamarind (Trinidad), Coromandel Gooseberry, Country Gooseberry, Five Corner (Australian), Five Fingers (Guyana), Starfruit, Star Pickle (Lim,2012).
Cho đến nay cây khé vẫn chưa rõ nguồn gốc, nhiều nhà nghiên cứu cho rang cây khế có nguồn gốc ở Ceylon (SriLanKa) và Moluccas (Indonesia), nhưng nó đã được trồng ở Đông Nam Á và Malaysia trong nhiều thế kỷ nay. Theo trại nghiên cứu Rehovoth cây khế được trồng quanh nhà làm cây cảnh và thu hoạch quả ở Israel từ 1935. Một số nhà nghiên cứu khác cho răng nó có mặt ở Nam Florida (Mỹ) trước năm 1887 (Mrton, 1987). Qua khé phan loai khoa hoc nhu sau : GIới: Plantae-Plants Phan giới: Tracheobionta-Vascular plants Ngành: Spermatophyta-Seed plants Phan nganh: Magnoliophyta-Flowering plants Lớp: Magnoliopsida-Dicotyledons Phan lớp: Rosidae Bo: Geraniales Ho: Oxalidaceae-Wood-Sorrel Family Chi: Averrhoa L.-Averrhoa Loai: Averrhoa carambola L.-Carambola (National Plant Database.
2004) Cây khế có nhiều ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới. Trên thế giới, cây khế đã được trồng sản xuất hang hóa tập trung ở một số quốc gia và vùng lãnh thé (Mỹ, Malaysia, Thái lan, Đài Loan, Nam Mỹ,. Ở Việt Nam, cây khé phân bé rải rác khắp nước từ Bắc vào Nam. Dựa theo nguồn gốc địa phương nơi xuất xứ, đặc điểm chất lượng giống khế Việt Nam có một số tên gọi như sau : VY Khế Bắc Biên (còn gọi là khế vàng): cau trúc nhụy cao hơn nhị.
Quả thon dai, khối lượng quả trung bình > 70g. vị quả chua ngọt, độ Brix trong khoảng 7 — 9. Y Khuế Huế (còn gọi là khế xanh ): cau trúc hoa nhụy thấp hơn nhị. Qua hơi tròn, khối lượng quả trung bình > 70g, vi quả ngọt, độ Brix > 10.
*x Khế chùm sao 1: Chọn tạo từ giỗng khế Malaysia. Khối lượng quả trung bình 95 — 105g, cánh quả day 3,25 cm, khi chín màu vàng sam, quả ngọt, độ Brix 9. VY Khế ngọt Bến Tre: cấu trúc hoa nhụy thấp hơn nhị. Hình dáng quả cat dọc tròn, khối lượng quả trung bình 100 — 150g.
Vị quả chua ngọt. Y Khế chua Kon Tum: vị chua thanh được dùng làm rau bán rộng rãi tại chợ Pleiku và Kon Tum. Hình dáng quả cắt dọc dai (tỷ lệ chiều dài/ chiều rộng > 2cm). Chiều dai quả hái xanh khoảng 5 cm, hái chín khoảng 10 em.
* Khế chua Điện Biên: Cau trúc hoa nhụy cao hơn nhị. Hình dáng quả cắt dọc dài, múi khế rất nông nên cắt ngang có hình ngũ giác. Kích thước quả nhỏ, khối lượng quả trung bình 30 — 50g. Quả có vi chua thanh dùng làm rau.
VY Khế ngọt QS9: cau trúc hoa nhụy thấp hơn nhị. Hình dáng quả cắt doc thon dài, khối lượng quả trung bình 90 — 150g, vị quả ngọt, độ Brix khoảng 11(Nguyễn Văn Hoan, 2006). Đặc tính thực vật * Thân cây: chiều cao dao động 4m — 12m. Trong sản xuất đại trà, chiều cao cây có thé khống chế dé dễ thu hái bằng biện pháp cắt tỉa tạo tán và trồng cây ghép.
Thân cây non thường có mau nâu nhạt, cây trưởng thành có màu nâu xâm. Vỏ trơn, nhẫn, màu sắc phụ thuộc vào tuổi của cây và tương đối khác nhau giữa các giống. s* Ré: thuộc loại rễ cọc mọc sâu 100 em — 160 cm, xung quanh là rễ chùm. Khi cây trưởng thành hệ thông rễ chùm phân bố xung quanh gốc khoảng 1m tạo thành một lớp rễ ngang rất dày.
“+ Lá: dang lá kép lông chim, số lá chét khoảng 3 — 8 cặp hình oval hoặc elip, lá chét phía dưới nhỏ lá chét phía trên. Cuống lá có thé dài tới 20 cm. Lá non có màu xanh lơ hay đồng nhạt và trở nên xanh đậm khi trưởng thành. Phiến lá dài khoảng 2.5 cm và rộng khoảng lcm — 4 cm.
Mặt trên của lá có một lớp lông tơ bao phủ, mặt dưới trơn nhãn. s* Hoa: nhỏ, lưỡng tính mọc thành chùm sim, mỗi chùm có 5 — 50 hoa. Cau trúc đài hoa khế có 5 cánh màu đỏ nhạt bao quanh tràng hoa màu tím, cuống hoa tròn ngăn (1 mm) mau đỏ đậm. Bau nhụy dài khoảng 15 — 25 mm chia làm 4 hoặc 5 ngăn, trong mỗi ngăn có từ 2 đến 4 noãn, kiểu bầu thượng, lối đính noãn trụ giữa.
Hoa mọc chủ yếu ở nách lá, trên cành cấp 1 — 2, trên thân chính và cả trên gốc, đôi khi có giỗng hoa năm trên đỉnh sinh trưởng của cành. Thời gian từ lúc xuất hiện nụ hoa cho đến khi hoa nở kéo dài khoảng 2 tuần. * Qua: mong nước, chiều dai dao động 5 em — 13 cm và chiều ngang 3cm — 6 cm. Mặt cắt ngang có hình ngôi sao năm cánh.
Mau sắc khi chín thường có màu xanh, vàng nhạt đến màu vàng cam đậm. Hạt khế phân bố ở giữa quả trong múi khế, trung bình một múi có | — 6 hạt. hạt nhỏ det, màu nâu, hình trứng dài 0. Hạt khế có nội nhũ nạc và phôi thăng, bao quanh hạt là lớp dịch nhờn (Lim, 2012 và Patil, 2010).
Giá trị cây khế Cây khế cho năng suất cao, thời vụ thu hoạch kéo dài nên cho hiệu quả kinh tế cao. Giá trị sử dụng của quả khế rất đa dạng: quả tươi, nguyên liệu chế biến (ô mai, mứt khế, rượu khế, nước khế), rau gia VỊ (xào, nau canh cá, gỏi). ở Malaysia khế được hầm với đường và đỉnh hương. Thái Lan hoa và trái xanh nau với tôm.
Ngoài ra, quả khế làm nguyên liệu chế biến mứt, ô mai, jam, trái cây ngâm đường, nước giải khát. Ở Đài Loan quả khế thái lát theo chiều dọc ngâm đường phục vụ xuất khẩu. Ở Ấn Độ quả khé dùng làm mứt, kẹo, nước uống đóng chai. O Hawaii, nước ép khế trộn với gelatin, đường, nước cốt chanh va nước dùng làm nước uống giải nhiệt.
Lá, hoa, thân và rễ khế được sử dụng trong đông y để chữa một số bệnh. Ngoài ra cây khế còn sử dụng làm cây cảnh trang trí hoa viên, sân vườn trong các khu đồ thị (Morton, 1987). Trong y học, đã có nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng cây khế trong việc điêu tri bệnh.1: Giá trị y học của cây khé (P.Dasgupta, 2013) Bộ : Giá trị được phầm phận Re Dé điều tri đau khớp, bệnh mãn tinh, nhức dau, chảy máu cam va di € wk. 2 tinh, rê kêt hợp với đường làm thuôc giải độc cho cơ thê.
" Vỏ bên trong với gỗ đàn hương và cây alyxia trị nỗi rôm, mẫn đỏ Ỏ trên cơ thê. Hạt Hat nghiên nát được sử dụng tri bệnh hen suyên và đau bụng. Điêu tri nam ngoài da và đau đâu. Lá sắc nước uông tri bệnh viêm miệng và đau thắt ngực.
Hơn nữa, lá được tìm thay là hữu ich trong La ` 2 điêu tri thiêu niệu, nhọt và viêm mu da, viêm dạ dày ruột và thương tích do chân thương Dé điều tri viêm họng, loét miệng, đau rang, ho, hen suyên, khó Trái tiêu, ngộ độc thức ăn, đau bụng, tiêu chảy, vàng da, sốt rét, trĩ, phát ban da, ngứa, say năng. Tại Ấn Độ, những quả chín được sử dụng như thuốc hạ nhiệt, nhuận tràng, kích thích sự thèm ăn. Tại Brazil, quả khế khuyến cáo như thuốc lợi tiêu trong thận và bàng quang. Hoa Dùng làm thuôc tây giun, sôt và sôt rét, viêm da 1.
Tinh hình nghiên cứu và sản xuất khé trên thé giới Các nhà di truyền chọn giống đã nghiên cứu tương đối sâu về mặt di truyền và chọn tạo nhiều giống mới theo các hướng sử dụng (làm rau, quả tươi, chế biến, cây cảnh). Đa số các giống mới được chọn tạo đều có hàm lượng axit oxalic thấp, thịt quả cứng, dễ vận chuyền, chất lượng cao vị ngọt có pha vị chua phù hợp với thị hiểu người tiêu dùng. VỀ biện pháp kỹ thuật đáng chú ý nhất là biện pháp bao quả bang túi giấy dé chống rudi đục quả và giữ màu sắc qua được sáng đẹp. Công nghệ sau thu hoạch đối với quả khế ở hai nơi này đã được nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh.
Quả khế không có đột phá hô hấp nên rất thuận tiện cho việc xuất khẩu bang đường biến. Các sản phẩm từ khé rat đa dạng: nước khế, rượu khé, mứt khế, khé say khô.