CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CRM 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Những khái niệm cơ bản về thông tin và hệ thống thông tin - Dữ liệu: là những sự kiện hoặc nhưng quan sát về hiện tượng vật lý hoặc các giao dịch kinh doanh, dữ liệu chính là các giá trị phản ánh về sự vật, hiện tượng trong thế giới khách qua, bao gồm tập giá trị mà người dùng có thể chưa biết được sự liên hệ giữa các giá trị này.Đàm Gia Mạnh (2017), giáo trình “Hệ thống thông tin quản lý”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội). - Thông tin: là một bộ dữ liệu được tổ chức, doanh nghiệp sử dụng một phương thức nhất định sao cho chúng mang lại một giá trị gia tăng so với giá trị vốn có của bản thân dữ liệu.
Thông tin chính là dữ liệu đã qua xử lý( phân tích, tổng hợp, thống kê) có ý nghĩa thiết thực, phù hợp với một mục đích cụ thể của người sử dụng.Đàm Gia Mạnh (2017), giáo trình “Hệ thống thông tin quản lý”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội). - Hệ thống: là một tập hợp có tổ chức gồm nhiều phần tử có mối quan hệ tương tác, ràng buộc lẫn nhau, cùng phối hợp hoạt động để đạt được một mục tiêu chung. Các phần tử trong một hệ thống có thể là vật chất hoặc phi vật chất như con người, máy móc, thông tin, dữ liệu, phương pháp xử lý, qui tắc hoạt động, quy trình xử lý.Đàm Gia Mạnh (2017), giáo trình “Hệ thống thông tin quản lý”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội). Mục đích của hệ thống: Hệ thống tồn tại và phát triển được khi nó có mục đích hay nó có thể tạo ra giá trị sử dụng cho một hoặc một số đối tượng nào đó.
- Hệ thống thông tin: là tập hợp các phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, mạng viễn thông, con người và các quy trình thủ tục khác nhằm thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền phát thông tin trong một tổ chức, doanh nghiệp. Hệ thống thông tin hỗ trợ việc ra quyết định, phân tích tình hình, lập kế hoạch, điều phối và kiểm soát các hoạt động trong một tổ chức, doanh nghiệp.Đàm Gia Mạnh (2017), giáo trình “Hệ thống thông tin quản lý”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội). Mỗi hệ thống thông tin có 5 bộ phần chính là phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, mạng và con người. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tổng quát các thành phần của HTTT (PGS.Đàm Gia Mạnh (2017), giáo trình “Hệ thống thông tin quản lý”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội). - Nguồn lực phần cứng: Là các bộ phận cụ thể của máy tính hay hệ thống máy tính, hệ thống mạng sử dụng làm thiết bị kỹ thuật hỗ trợ hoạt động trong HTTT. Phần cứng trong HTTT là công cụ kỹ thuật để thu thập, xử lý, truyền thông tin.Đàm Gia Mạnh (2017), giáo trình “Hệ thống thông tin quản lý”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội). Trang thiết bị phần cứng của HTTT thường được chia thành hai nhóm nhỏ: Các thiết bị phần cứng máy tính và các thiết bị phần cứng viễn thông.
Các thiết bị phần cứng máy tính như thiết bị vào/ra, thiết bị xử lý, thiết bị lưu trữ; các thiết bị viễn thông bao gồm các thiết bị truyền và khuếch đại tín hiệu, các thiết bị nhận và giải mã tín hiệu. - Nguồn lực phần mềm: Phần mềm là các chương trình được cài đặt trong hệ thống, thực hiện công việc quản lý hoặc các quy trình xử lý trong hệ thống thông tin. Phần mềm được sử dụng để kiểm soát và điều phối phần cứng, thực hiện xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu của người sử dụng.Đàm Gia Mạnh (2017), giáo trình “Hệ thống thông tin quản lý”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội). + Phần mềm hệ thống: là các chương trình giúp cho người sử dụng quản lý, điều hành hoạt động của các thiết bị phần cứng.
Phần mềm hệ thống giống như một bộ phận kết nối giữa máy tính và chương trình ứng dụng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Phần mềm chuyên dụng: là thành phần quan trọng nhất trong quy trình xử lý thông tin, cho phép thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trong tổ chức, doanh nghiệp một cách tự động. + Phần mềm bảo mật: là các chương trình đảm bảo an toàn cho dữ liệu bên trong hệ thống như phần mềm sao lưu dự phòng, phần mềm bảo mật mạng, phần mềm diệt virus. Những khái niệm cơ bản về hệ thống thông tin quản lý Hệ thống thông tin quản lý: là các phương tiện, biện pháp để theo dõi, kiểm tra và định hướng hoạt động của tổ chức đạt được mục tiêu đề ra.Đàm Gia Mạnh (2017), giáo trình “Hệ thống thông tin quản lý”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội).
- Với hạt nhân là CSDL hợp nhất, HTTT quản lý có thể hỗ trợ cho nhiều lĩnh vực chức năng khác nhau trong đó HTTT quản lý có các chức năng chính là: Thu nhập, phân tích và lưu trữ các thông tin một cách hệ thống, những thông tin có ích được cấu trúc hoá để có thể lưu trữ và khai thác trên các phương tiện tin học; Thay đổi, sửa chữa, tiến hành tính toán trên các nhóm chỉ tiêu, tạo ra các thông tin mới; Phân phối và cung cấp thông tin. Chất lượng của HTTT quản lý được đánh giá thông qua tính nhanh chóng trong đáp ứng các yêu cầu thông tin, tính mềm dẻo và tính toàn vẹn, đầy đủ của hệ thống. - Các loại HTTT quản lý thông dụng + Hệ thống thông tin bán hàng, marketing: Hệ thống thông tin bán hàng, marketing là hệ thống hỗ trợ các nghiệp vụ trong bán hàng và maketing của doanh nghiệp như thông tin khuyến mại, giảm giá, thông tin khách hàng… + Hệ thống thông tin sản xuất: Hệ thống thông tin sản xuất là hệ thống thông tin dùng để kiểm soát các nguồn lực liên quan đến sản xuất và kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp. Hệ thống thông tin sản xuất, kinh doanh cung cấp các thông tin cần thiết để lên kế hoạch, tổ chức, điều hành, theo dõi, kiểm tra và thực hiện chức năng trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Hệ thống thông tin nhân sự: Hệ thống thông tin nhân sự là hệ thống bao gồm tất cả những quyết định và hoạt động quản lý (tuyển dụng, quản lý, trả lương, nâng cao 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiệu quả hoạt động, và sa thải nhân viên trong doanh nghiệp…) có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp.3 Các phương pháp phân tích, thiết kế hệ thống thông tin quản lí 1. Giới thiệu chung a. Phương pháp hướng chức năng Đặc trưng của phương pháp hướng cấu trúc là phân chia chương trình chính thành nhiều chương trình con, mỗi chương trình con nhằm thực hiện một công việc xác định. Phương pháp này tiến hành phân rã bài toán thành các bài toán nhỏ hơn, rồi tiếp tục phân rã các bài toán con cho đến khi nhận được bài toán có thể cài đặt được ngay, sử dụng các hàm ngôn ngữ lập trình hướng cấu trúc.
Phương pháp hướng đối tượng - Cách tiếp cận hướng đối tượng là một lối tư duy theo cách ánh xạ các thành phần trong bài toán vào các đối tượng ngoài đời thực. Một hệ thống được chia thành các thành phần nhỏ gọi là các đối tượng, mỗi đối tượng bao gồm đầy đủ cả dữ liệu và hành động liên quan đến đối tượng đó. Các đối tượng trong một hệ thống tương đối độc lập với nhau và hệ thống sẽ được xây dựng bằng cách kết hợp các đối tượng đó lại với nhau thông qua các mối quan hệ và tương tác giữa chúng. - Đặc điểm của phân tích và thiết kế hướng đối tượng là: nhìn nhận hệ thống như một tập các đối tượng tương tác với nhau để tạo ra một hành động cho một kết quả ở mức cao hơn.
Để thực hiện được điều này người ta phải sử dụng hệ thống mô hình các đối tượng với các đặc trưng cơ bản sau: Tính trừu tượng hóa cao; Tính bao gói thông tin; Tính modul hóa; Tính kế thừa - So với phương pháp hướng cấu trúc thì phương pháp hướng đối tượng có một số ưu điểm như sau: + Dữ liệu và các hàm mới có thể dễ dàng bổ sung vào đối tượng nào đó khi cần thiết -> dễ nâng cấp thành hệ thống lớn hơn. + Dữ liệu được bao bọc, che dấu và không cho phép các hàm ngoại lai truy cập tự do mà dữ liệu của một đối tượng chỉ có thể được truy cập bởi chính các hàm xác định trong đối tượng đó -> chương trình an toàn hơn. + Mô hình được xây dựng gần với hệ thống thực tế. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Thông qua nguyên lý kế thừa -> loại bỏ đoạn chương trình lặp lại khi khai báo lớp, mở rộng khả năng sử dụng lớp -> ngắn gọn, tiết kiệm thời gian.
+ Thiết kế trọng tâm vào dữ liệu -> xây dựng mô hình chi tiết, dễ cài đặt. + Hỗ trợ sử dụng lại mã nguồn: Chương trình lập trình theo phương pháp hướng đối tượng thường được chia thành các gói là các nhóm của các lớp đối tượng khác nhau. Các gói này hoạt động tương đối độc lập và hoàn toàn có thể sử dụng lại trong các hệ thống thông tin tương tự. + Phù hợp với các hệ thống lớn: Phương pháp hướng đối tượng không chia bài toán thành các bài toán nhỏ mà tập trung vào việc xác định các đối tượng, dữ liệu và hành động gắn với đối tượng và mối quan hệ giữa các đối tượng.
Các đối tượng hoạt động độc lập và chỉ thực hiện hành động khi nhận được yêu cầu từ các đối tượng khác. Vì vậy, phương pháp này hỗ trợ phân tích, thiết kế và quản lý một hệ thống lớn, có thể mô tả các hoạt động nghiệp vụ phức tạp bởi quá trình phân tích thiết kế không phụ thuộc vào số biến dữ liệu hay số lượng thao tác cần thực hiện mà chỉ quan tâm đến các đối tượng tồn tại trong hệ thống đó. Giới thiệu về phương pháp phân tích thiết kế hướng đối tượng a. Một số khái niệm cơ bản trong hướng đối tượng (Trần Đình Quế (2017), giáo trình: “Phân tích thiết kế hệ thống thông tin” , Học viện công nghệ bưu chính viễn thông).
- Đối tượng (object): một đối tượng biểu diễn một thực thể vật lý, một thực thể khái niệm hoặc một thực thể phần mềm. Có thể định nghĩa một đối tượng là một khái niệm, sự trừu tượng hoặc một vật với giới hạn rõ ràng và có ý nghĩa với một ứng dụng cụ thể.