Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC ĐỊNH HƯỚNG TỰ HỌC 1. Nghiên cứu tổng quan về dạy học tích cực định hướng phát huy năng lực tự học 1. Tổng quan một số nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn 1.1 Nghiên cứu về năng lực tự học Nguyễn Thị Thúy Viên, “Xây dựng tiến trình dạy - tự học một số kiến thức phần quang hình học vật lí 11 nâng cao”, luận văn thạc sĩ trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh năm 2013. Đề tài nghiên cứu và xây dựng tiến trình dạy tự học kiến thức phần quang hình học với ưu điểm tiến hành giảng dạy với các phương pháp dạy học mới, HS khá sôi nổi với bài giảng.
Tuy nhiên kiến thức phần quang hình học có rất nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống hàng ngày nhưng trong bài giảng tác giả chưa làm nổi bật được nội dung này. Nếu được ứng dụng CNTT vào bài giảng một cách hợp lí sẽ giúp bài giảng đạt hiệu quả cao hơn [10]. Bùi Thị Oanh, “Xây dựng chuyên đề dạy học lực ma sát- vật lí lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực của học sinh”, khóa luận tốt nghiệp trường ĐHSP Hà Nội 2 năm 2015. Đề tài thiết kế tiến trình dạy học chuyên đề “Lực ma sát” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh dựa trên hệ thống câu hỏi và bài tập tự luận.
Đề tài phát triển được một cách đồng bộ các năng lực hoạt động chuyên biệt gắn với môn Vật lí của học sinh. Tuy nhiên trong thời đại 4.0 thì đề tài chưa ứng dụng được CNTT vào quá trình dạy học, học sinh không phát huy được tính tích cực, hứng thú học tập. Nguyễn Thị Hồng, “Một số giải pháp phát huy năng lực tự học môn vật lí cho học sinh THPT” đề tài trường THPT chuyên Huỳnh Mẫn Đạt tỉnh Kiên Giang đăng vào 2/2020. Tác giả đưa ra các giải pháp để hình thành và rèn luyện cho người học sự hiểu biết, tâm thế chủ động điều khiển quá trình học tập 6 của bản thân mình, phát huy nội lực tự học của con người.
Một số giải pháp cụ thể tác giả nêu như: kĩ năng sư phạm, sử dụng phương tiện dạy học, chuẩn bị của giáo viên và học sinh, thông qua các hoạt động của nhà trường,. những giải pháp này sẽ mang lại hiệu quả nếu quá trình học tập ở lớp diễn ra liên tục nhưng sẽ kém hiệu quả với tình hình hiện tại khi việc học ở trường lớp của HS bị gián đoạn. Nghiên cứu về ứng dụng CNTT và các trang mạng xã hội học tập Vũ Thị Thu Hiền, luận văn “khai thác mạng xã hội học tập edmodo hỗ trợ học sinh lớp 12 học tập môn toán” Cao học K25, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên. Với sự phát triển của công nghệ và sự hỗ trợ của các phương tiện giảng dạy ngày càng phong phú.
Trong đó việc sử dụng mạng xã hội học tập Edmodo hỗ trợ dạy học đã được vận dụng trong nhiều môn học khác nhau. Đề tài trình bày một thiết kế mô hình dạy học trên lớp có sử dụng kĩ thuật số và mạng xã hội Edmodo trong học tập môn toán 12 cho HS trường phổ thông để cải thiện chất lượng học tập. Kết quả cho thấy việc sử dụng mô hình học tập cho toán 12 với sự hỗ trợ của Edmodo là khả thi và có hiệu quả tốt. Edmodo đã trở thành phương tiện giúp HS học tập và tương tác.
Nguyễn Thị Minh Quỳnh, “ứng dụng Moodle để xây dựng hệ thống các bài thực hành thí nghiệm vật lí lớp 10 (nâng cao)”, khóa luận tốt nghiệt trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh năm 2013. Với hướng ứng dụng CNTT này giáo viên và học sinh sẽ tiết kiệm được thời gian, cụ thể giáo viên sẽ tiết kiệm thời gian chuẩn bị nội dung. Hỗ trợ giáo viên về mặt cung cấp kiến thức cho học sinh trước khi tiến hành thí nghiệm với dụng cụ thật. Về phía học sinh sẽ được chủ động hơn trong các bài học, nắm vững được các dụng cụ thí nghiệm và các bước tiến hành.
Lê Thị Nhị, “Nghiên cứu đề xuất xây dựng mạng xã hội học tập tại Việt Nam”, luận văn thạc sĩ ngành công nghệ phần mềm năm 2011. Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đề xuất một mô hình mạng xã hội dành riêng cho 7 học tập để góp phần làm phong phú các hình thức giáo dục, đào tạo, phát huy hiệu quả của Internet đối với hoạt động giáo dục, đào tạo. Nguyễn Thị Huyền Trang, “Vận dụng b-learning trong tổ chức dạy học chương “các định luật bảo toàn” (Vật lí 10) với sự hỗ trợ của facebook theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh” trường đại học sư phạm Đà Nẵng. Đề tài nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh theo mô hình b-learning chương “các định luật bảo toàn” (vật lí 10) với sự hỗ trợ của facebook.
Kết quả cho thấy việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS với sự hỗ trợ của mạng xã hội facebook giúp HS có nhiều thời gian và không gian học tập, HS ở lớp thực nghiệm học tập tích cực, hào hứng kết quả phát triển năng lực cao hơn lớp đối chứng. Qua đó cho thấy nghiên cứu đề tài “Ứng dụng CNTT tổ chức dạy học chương: khúc xạ ánh sáng vật lý 11 nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh” là đúng hướng, phù hợp và cần thiết. Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học định hướng tự học 1. Tự học là gì? Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học.
Quan niệm về tự học Người cho rằng: “Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập”. Theo người “tự động học tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác”, tự chủ không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự chủ động vạch ra kế hoạch học tập cho mình rồi tự triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình. Trong cuốn học và dạy cách học, giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình” [6]. Theo Nguyễn Kỳ cho rằng: “Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề 8 đặt ra, nhận biết vấn đề xử lí thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các biện pháp giải quyết vấn đề, xử lí tình huống,…” GS.TSKH Thái Duy Tuyên khẳng định: “Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,.) cùng các phẩm chất, động cơ tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [7] Tổng hợp các quan niệm về tự học của các tác giả có thể đưa ra khái niệm về tự học như sau: “Tự học là tự động não suy nghĩ, sử dụng các khả năng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,.) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các công cụ thực hành), cùng các phẩm chất của cá nhân như: động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, không ngại khó, có ý trí, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học,.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình”.
Năng lực tự học (NLTH) Theo tác giả Lê Công Triêm, NLTH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao [8]. Theo Nguyễn Thị Hồng Việt, NLTH được hiểu là khả năng tự mình tìm kiếm, thu thập thông tin, xử lí thông tin và vận dụng kiến thức vào tình huống cụ thể để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, mang đến sự phát triển cho bản thân người học [9]. Trong công trình “Học và dạy cách học” Nguyễn Cảnh Toàn đưa ra quan niệm về năng lực tự học như sau: “Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp. Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” 9 Thông qua việc tìm hiểu các khái niệm về NLTH, NLTH có thể hiểu như sau: NLTH là khả năng tự suy nghĩ, hoạt động dựa trên sự phối hợp giữa kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học để thực hiện có hiệu quả các hoạt động học tập.
Năng lực tự học môn Vật lý của học sinh thể hiện ở chỗ bản thân mỗi học sinh biết tự quan sát phân tích, biết dự đoán, kiểm chứng,.trên cơ sở đó rút ra kết luận, hình thành định luật vật lý. Đồng thời, tự hoàn thiện kiến thức học tại lớp, vận dụng để giải thích được hiện tượng vật lý trong thực tế, cũng như giải các bài tập theo yêu cầu của chương trình, bên cạnh đó còn biết đề xuất những vấn đề vương mắc trong học tập, cũng như một số hiện tượng vật lý thường gặp trong thực tế. Biểu hiện của năng lực tự học Dựa vào cơ sở phương pháp luận của NLTH, các biểu hiện của NLTH [3], chúng tôi đưa ra cấu trúc khung NLTH gồm 4 thành tố và 9 biểu hiện ở bảng1 như sau: Bảng 1.1: Cấu trúc khung NLTH của HS THPT STT Các NLTH thành phần Các biểu hiện 1 Hình thành động cơ tự 1) Hứng thú TH học 2) Ý thức tự học 2 3) Xác định được mục tiêu học tập Xây dựng kế hoạch TH 4) Xác định được nghiệm vụ học tập 3 5) Thu thập tìm kiếm thông tin Thực hiện kế hoạch tự 6) Lựa chọn và xử lí thông tin học 7) Vận dụng kiến thức 4 8) Nhận ra những ưu, nhược điểm của bản than dựa trên kết quả đạt được Tự đánh giá và điều chỉnh 9) Khắc phục và điều chỉnh những sai sót, hạn chế. Tự điều chỉnh được cách học 10 1.