phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tuyển dụng nhân lực công nghệ phần mềm trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tuyển dụng nhân lực công nghệ phần mềm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Minh Phúc Chƣơng 3: Giải pháp tuyển dụng nhân lực công nghệ phần mềm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Minh Phúc 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ PHẦN MỀM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Hiện nay, có khá nhiều định nghĩa khác nhau về nhân lực đƣợc đề cập trong các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc gần đây, nhƣ: „„Nhân lực là nguồn lực trong mỗi con ngƣời nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc.
Nó bao gồm cả sức khỏe, trí lực, tâm lý, lòng đam mê‟‟ [1, tr.8] Theo Giáo sƣ - Viện sĩ Phạm Minh Hạc (2001), “Nguồn nhân lực cần đƣợc hiểu là số dân và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của ngƣời lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện thực tế và tiềm năng đƣợc chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phƣơng nào đó. Theo cách hiểu này, những ngƣời trong độ tuổi lao động nhƣng không có nhu cầu tìm việc làm, hay đang tham gia các công tác nhƣ nghĩa vụ quân sự, đi học… thì vẫn đƣợc tính trong NNL. Nhƣ vậy, xem xét dƣới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nhân lực nhƣng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: Nhân lực là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi lao động trở lên, có khả năng về cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
Công nghệ phần mềm Trƣớc tiên, theo định nghĩa của R. Pressman (2001), “phần mềm” là tập hợp những câu lệnh đƣợc viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo 11 một trật tự xác định nhằm tự động thực hiện một số chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. Đặc điểm của phần mềm là trừu tƣợng và vô hình. Theo Ghezzi (1991), CNPM là một lĩnh vực của khoa học máy tính, liên quan đến xây dựng các hệ thống phần mềm vừa lớn vừa phức tạp bởi một hay một số nhóm kỹ sƣ.
Từ điển Larousse (1996) định nghĩa chi tiết hơn: CNPM là tập hợp các phƣơng pháp, mô hình, kỹ thuật, công cụ và thủ tục liên quan đến các giai đoạn xây dựng một sản phẩm phần mềm. Các giai đoạn đó là: đặc tả, thiết kế, lập trình, thử nghiệm, sửa sai, cài đặt để đem vào ứng dụng, bảo trì, lập hồ sơ. Nhƣ vậy, có thể hiểu CNPM là tập hợp các quy trình, phƣơng pháp và công cụ để phát triển đƣợc phần mềm. Nhân lực công nghệ phần mềm Thông qua các khái niệm đã nêu ở trên, ta có thể hình dung đƣợc khái niệm: Nhân lực CNPM là lực lƣợng làm việc hoặc sẽ làm việc trong ngành CNPM mà đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngành CNPM về trình độ (kiến thức – kỹ năng), vị trí lĩnh vực, kinh nghiệm làm việc ở mức độ cao – phức tạp, phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành CNPM, xã hội và nền kinh tế theo từng giai đoạn.
Nhân lực CNPM có thể phân loại nhƣ sau: Chuyên viên Phân tích nghiệp vụ: Là “chiếc cầu nối” giữa doanh nghiệp/khách hàng và đơn vị phát triển phần mềm. Chuyên viên phân tích nghiệp vụ sẽ thƣờng xuyên làm việc với lập trình viên, trƣởng nhóm phát triển phần mềm, quản lý dự án và các nhân viên khác để triển khai các giải pháp dƣới hình thức là hệ thống hóa thành các mô hình thích hợp. Kiến trúc sƣ phần mềm: Là chuyên gia trong lĩnh vực phần mềm, có nhiệm vụ thiết kế, thẩm định và tạo ra những thiết kế kiến trúc tổng quát cho phần mềm, đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng. 12 Kỹ sƣ Phát triển phầm mềm (Lập trình viên): Là ngƣời thiết kế, xây dựng và bảo trì các phần mềm.
Bằng cách thao tác các đoạn mã trên công cụ lập trình, họ có thể tạo ra các chƣơng trình mới, sửa lỗi hay nâng cấp chƣơng trình đó để tăng tính hiệu quả của việc sử dụng máy tính, thiết bị di động,. Kỹ sƣ Kiểm thử phần mềm: Là ngƣời tiến hành chạy thử sản phẩm, kiểm tra và tìm kiếm các lỗi trong quá trình thiết kế, phát triển sản phẩm đó. Quản lý dự án: Là ngƣời chịu trách nhiệm lên kế hoạch cho dự án và xây dựng, quản lý nhóm để thực hiện dự án. Tuyển dụng nhân lực công nghệ phần mềm „„Tuyển dụng nhân lực chính là một quá trình tìm kiếm và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của tổ chức và bổ sung lực lƣợng lao động cần thiết để thực hiện các mục tiêu của tổ chức‟‟ [2, tr.74] Một quan điểm khác cho rằng „„Tuyển dụng nhân lực là quá trình thu hút các cá nhân trong và ngoài tổ chức có đủ tiêu chuẩn thích hợp tham gia dự tuyển để lựa chọn ra những ứng viên đầy đủ điều kiện đáp ứng đƣợc yêu cầu của tổ chức.
Sau đố định hƣớng, hƣớng dẫn nhân viên mới hòa nhập với mội trƣờng của tổ chức‟‟ [9, tr.168] Cũng có ý kiến cho rằng: „„Tuyển dụng nhân lực là một quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những ngƣời có đủ các tiêu chuẩn thích hợp cho các công việc và các chức danh cần ngƣời trong tổ chức‟‟[4, tr.223] Từ những quan điểm trên, ta có thể rút ra: Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút, lựa chọn và đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm đƣợc những ngƣời phù hợp bổ sung lực lƣợng lao động cần thiết nhằm đáp ứng đƣợc yêu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp. Quá trình tuyển dụng đƣợc coi là hoàn tất khi bao gồm cả hoạt động định hƣớng nhân viên, hƣớng dẫn nhân viên mới hòa nhập trong môi trƣờng của doanh nghiệp. 13 Cũng nhƣ khái niệm Tuyển dụng nhân lực, Tuyển dụng nhân lực CNPM là quá trình tìm kiếm, thu hút, lựa chọn và đánh giá các ứng viên muốn đƣợc làm việc trong ngành CNPM theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm đƣợc những ngƣời phù hợp bổ sung lực lƣợng lao động cần thiết nhằm đáp ứng đƣợc yêu cầu sử dụng lao động của ngành CNPM. Đặc điểm nhân lực công nghệ phần mềm Khác với các ngành công nghiệp khác, đầu vào là những nguyên vật liệu, còn đầu vào trong ngành CNPM chính là chất xám.
Công việc trong ngành CNPM đòi hỏi ngƣời lao động cần có những kiến thức về chuyên môn cao để giải quyết những bài toán phần mềm một cách nhanh chóng và hiệu quả, đồng thời cũng cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận. Vì vậy, nhân lực CNPM luôn có một vài đặc điểm nhất định nhƣ sau: Kiến thức chuyên môn: Nhân lực làm việc trong ngành CNPM cần sử dụng, sáng tạo và biết phát triển các thuật toán, đây là kỹ năng đầu tiên cần có, nhằm đƣa những ý tƣởng trên giấy trở thành những tính năng thực sự của sản phẩm. Nắm vững kỹ năng phát triển thuật toán thì sẽ thực hiện công việc hiệu quả hơn rất nhiều, nhất là với quy mô dữ liệu khổng lồ nhƣ ngày nay. Bên cạnh đó, những kỹ năng tìm kiếm, khai thác dữ liệu, lập mô hình số liệu thống kê cũng đƣợc coi trọng.
Ngoài ra còn cần biết và sử dụng thành thạo ngôn ngữ lập trình nhất định. Các ngôn ngữ lập trình nhƣ là công cụ còn thuật toán và kinh nghiệm là cách thức để một lao động trong lĩnh vực này hoàn thành công việc của mình. Khả năng tư duy, tiếp cận và học hỏi: Nhân lực ngành CNPM cần một "tƣ duy mở". Các kỹ sƣ CNPM thƣờng giỏi về tƣ duy logic, có một tƣ duy tổng thể bao gồm cả tƣ duy kinh doanh và tƣ duy dịch vụ khách hàng.
Vòng đời của các sản phẩm CNPM là tƣơng đối ngắn nếu so sánh với các sản phẩm 14 khác trên thị trƣờng. Vì vậy, NNL trong ngành này cũng đòi hỏi cần phải liên tục cập nhật những tin tức, xu hƣớng mới trên thế giới và thị trƣờng công nghệ, cũng nhƣ tiếp cận nhanh những kiến thức mới về các nền tảng ngôn ngữ cần sử dụng cho công việc lập trình, thiết kế,. Các CNPM cũng thay đổi chóng mặt, nhân lực CNPM nếu không tự nghiên cứu, học hỏi, tự phát triển “sự học” cá nhân thì có thể sẽ nhanh chóng bị đào thải. Việc học ở đây không chỉ đơn giản là cập nhật tin tức về công nghệ, mà phải là học để áp dụng đƣợc vào công việc.
Kinh nghiệm thực tế: Ngành công nghệ phần mềm là một trong những ngành đòi hỏi ngƣời lao động rất nhiều về kinh nghiệm làm việc thực tế. Kinh nghiệm thực tế mang lại cho ngƣời lao động trong lĩnh vực công nghệ phần mềm cái nhìn tổng quan về cách phát triển một phần mềm, những yêu cầu cần thiết cho một phần mềm,… Cùng với đó, kinh nghiệm làm việc giúp cho ngƣời lao động có thể giải quyết nhanh khối lƣợng công việc mà doanh nghiệp đang cần mà không phải đào tạo lại ngƣời lao động cho phù hợp với mục đích sử dụng lao động. Trình độ ngoại ngữ: Kỹ năng ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh là một kỹ năng buộc phải có đối với nhân lực ngành CNPM khi đa số tài liệu, văn bản hƣớng dẫn, kỹ thuật, công nghệ cũng nhƣ nội dung các môn học, phần mềm về CNTT - truyền thông và các công việc thực tế đa số dùng tiếng Anh. Hơn nữa tiếng Anh còn thông dụng trao đổi với khách hàng, đối tác quốc tế trong ngành nhƣ Nhật Bản, Thụy Sỹ, Đức….
Kỹ năng quản lý dự án: Nhân lực làm việc trong ngành này thƣờng có khả năng quản lý các dự án của mình, đảm bảo thời gian, tiến độ và hiệu suất công việc. Đây là điều hết sức quan trọng và luôn đƣợc theo sát trong quá trình làm việc để đảm bảo tiến độ của dự án. 15 Bảo mật: Để theo đuổi công việc trong ngành này, nhân lực CNPM bắt buộc phải nắm đƣợc những quy tắc tối thiểu trong bảo mật thông tin.