phần Mở đầu và Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài luận bao gồm 3 chương chính sau đây: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về quyền đưa ra tuyên bố trong luật quốc tế. Chƣơng 2: Quyền đưa ra tuyên bố theo Điều 287 và Điều 298 của Công ước Luật Biển 1982. Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng các quy định về quyền đưa ra tuyên bố ở Biển Đông và một số khuyến nghị đối với Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƢA RA TUYÊN BỐ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 1.
Tuyên bố đơn phƣơng Căn cứ vào điều 38 khoản 1 Quy chế tòa án quốc tế quy định về nguồn của Luật quốc tế: Tòa án, với chức năng là giải quyết phù hợp với luật quốc tế các vụ tranh chấp được chuyển đến Tòa án, sẽ áp dụng: a. Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận; b. Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật; c. Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận d.
Với những điều kiện nêu ở điều 59, các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau được coi là phương tiện để xác định các qui phạm pháp luật. Trong cuốn: “Các giới hạn của Luật quốc tế và cách tiếp cận bình đẳng giới” của H.Charlesworth và Chinkin [20] đưa ra: Danh mục truyền thống những nguồn của Luật quốc tế ở điều 38 đảm bảo sự kiểm soát của một quốc gia đối với những gì được coi là luật, nhưng là sự phản ánh không đầy đủ hiện thực của luật pháp quốc tế đương đại. Nhiều hình thức lập pháp quan trọng khác đã được xác định, ví dụ thông qua nghị quyết của các tổ chức quốc tế như Đại hội đồng luật quốc tế, thực tiễn hoạt động của các tổ chức quốc tế và các văn bản quy tắc ứng xử quốc tế …. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Liệu một văn bản hoặc một lời nói được thực hiện bởi một người đứng đầu nhà nước mà không có bất cứ một cam kết, phản hồi hoặc chấp nhận từ bên đối phương, bên ngoài các cuộc đàm phán chính thức có được coi là nguồn của luật quốc tế từ đó làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý ràng buộc không? 1.
Định nghĩa, hình thức của tuyên bố đơn phương Theo cuốn Bách khoa toàn thư của Quỹ Max Planck vì Hòa bình và Luật pháp quốc tế: “Tuyên bố là công cụ mà các chủ thể của luật quốc tế thể hiện ý chí, ý định hoặc ý kiến của họ khi thực hiện quan hệ quốc tế. Đó là hình thức biểu hiện của các hành vi đơn phương mà chủ thể của luật quốc tế thực hiện, nhưng cũng có thể là một phần của thỏa thuận đa phương”. Ví dụ: Trong trường hợp các quốc gia áp dụng một tuyên bố chung hoặc nếu một điều ước quy định các tuyên bố đơn phương được thực hiện để xác định các cam kết của điều ước. Theo cuốn sách Hướng dẫn về Công ước của Liên Hợp quốc về Quyền của trẻ em (UNCRC) có đưa ra định nghĩa: Thuật ngữ Tuyên bố được sử dụng trong nhiều bối cảnh quốc tế khác nhau.
Tuyên bố trong Nhân quyền quốc tế không ràng buộc về mặt pháp lý mà thường được lựa chọn một cách chủ đích để chỉ ra rằng: các bên không có ý định để tạo ra nghĩa vụ ràng buộc mà chỉ muốn đưa ra những nguyện vọng nhất định. Như vậy, quyền đưa ra tuyên bố là một quyền đặc thù thuộc về quyền năng chủ thể của luật quốc tế, được biểu hiện trong tổng thể quyền và nghĩa vụ cơ bản theo quy định của pháp luật quốc tế. Các quyền và nghĩa vụ này tồn tại trên cơ sở chủ quyền quốc gia, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và quá trình tồn tại của các quốc gia đó [9]. Các chủ thể sẽ thực hiện quyền đưa ra tuyên bố bằng những hành vi đơn phương tuyên bố ý định của mình về những vấn đề trong quan hệ quốc tế.
Quyền này mang ý nghĩa quan trọng thể hiện việc tôn trọng ý kiến của các quốc gia, đồng thời, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nó phù hợp với sự ra đời và phát triển theo chiều hướng ngày càng tiến bộ của luật quốc tế và có liên hệ mật thiết với nội dung của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các quốc gia vẫn áp dụng quyền đưa ra tuyên bố đơn phương nhằm đưa ra quan điểm của mình dù cho tồn tại nhiều học thuyết mâu thuẫn về việc liệu có hay không hiệu lực pháp lý của các tuyên bố đơn phương. Ủy ban luật pháp quốc tế đã xác định hành vi đơn phương của quốc gia góp phần nền tảng cho sự phát triển luật pháp quốc tế tại phiên họp lần thứ 48 năm 1996. Ủy ban nhận định rằng mặc dù quyền này được phân tích rõ ràng cả trong những văn bản học thuật và chưa từng được nghiên cứu bởi cơ quan luật pháp quốc tế chính thức nào đồng thời các quốc gia áp dụng khá nhiều hành vi đơn phương và thực tiễn làm cơ sở cho các nguyên tắc pháp lý liên quan; một số các phán quyết của ICJ đã xem xét đến hành vi đơn phương nhưng chỉ mang giá trị tham khảo còn các văn bản điều ước vẫn là nguồn chủ yếu áp dụng.
Các tuyên bố đơn phương được quy định ít hoặc không có hiệu lực ràng buộc trong Luật pháp quốc tế trước những năm 1960 nhưng sự tồn tại và hiệu lực ngày càng được thừa nhận để ICJ có thể tuyên bố vào năm 1974: “Các quốc gia có thể thừa nhận các tuyên bố đơn phương và đặt niềm tin vào chúng và yêu cầu rằng những nghĩa vụ phát sinh phải được tôn trọng” [29, tr. Mặc dù phương pháp thỏa thuận là cách thông thường nhằm phát sinh quyền và nghĩa vụ trong luật pháp quốc tế, cho phép các quốc gia điều hòa và cân bằng các lợi ích, các tuyên bố đơn phương của quốc gia vẫn đóng vai trò quan trọng, là một biện pháp không thể thiếu khi đàm phán không thành trong quá trình hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Tại các quốc gia, các thỏa thuận, hiệp ước và các công ước quốc tế là một trong số các nguồn nổi bật được quy định trong điều 38 của quy chế tòa 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com án quốc tế ICJ, dù vậy, các tuyên bố đơn phương không được đề cập và thực sự đến nay chưa tồn tại một định nghĩa chính xác, thống nhất thế nào là tuyên bố đơn phương [41]. Tuy nhiên, các quốc gia có thể có được nghĩa vụ, dựa trên các quan hệ Hiệp ước, thông qua các hành vi không chính thức biểu hiện ý chí đơn phương [49].
ILC đã đưa ra định nghĩa: “Một tuyên bố đơn phương biểu hiện rõ ràng bởi một ý chí được xây dựng bởi các quốc gia với mục đích tạo ra nghĩa vụ pháp lý liên quan đến một hay nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế, được công nhận bởi quốc gia hay tổ chức quốc tế đó” [23]. Do đó, các hành vi tuyên bố đơn phương là biểu hiện cụ thể ý chí của một quốc gia [40, tr.270] có khả năng tạo gia hiệu lực pháp lý giống như bất kỳ hành vi nào khác của nhà nước. Như vậy, hành vi tuyên bố đơn phương chưa từng được định nghĩa cụ thể trong các điều ước quốc tế, cũng chưa có tuyên bố đơn phương nào được nhắc đến với một định nghĩa tổng quát kể cả Công ước Viên năm 1969. Xét đến hình thức của tuyên bố đơn phương, năm 1974, Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) trong vụ Thử nghiệm hạt nhân (Úc, New Zealand v.
Pháp) đã đưa ra: Về câu hỏi liên quan đến hình thức, phải được chú ý rằng đây không phải phạm vi mà luật pháp quốc tế áp đặt bất kì yêu cầu cụ thể hay nghiêm ngặt. Dù tuyên bố đưa ra bằng miệng hay bằng văn bản cũng không gây ra sự khác biệt quan trọng, lời tuyên bố đưa ra trong những trường hợp đặc biệt có thể tạo ra các cam kết quốc tế về mặt pháp luật mà không đòi hỏi phải được diễn đạt bằng hình thức văn bản. Do đó vấn đề hình thức không phải là vấn đề quyết định [29, tr. Thực tiễn đã chứng minh tuyên bố đơn phương tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như: Công hàm, Thông cáo, thư, các phát biểu … như Công hàm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Phủ Tổng thống gửi đến New Zealand, Thông cáo của Đại Sứ quán Pháp gửi New Zealand, thư của Tổng thống Pháp gửi Thủ tướng New Zealand và các phát biểu của Ngoại trưởng Pháp trong buổi họp báo cũng như trước Đại Hội Đồng.
Ngoài ra, số lượng quốc gia tiếp nhận tuyên bố đơn phương không giới hạn, một tuyên bố có thể gửi đến cộng đồng quốc tế hay chỉ một vài quốc gia hoặc những đối tượng khác [19, điều 6]. Ví dụ: Trong vụ phân định biển và các vấn đề về lãnh thổ giữa Qatar và Bahrain, các bức thư trao đổi giữa Quốc vương Arab và Tiểu vương Qatar, giữa Quốc vương Arab và Tiểu vương Bahrain đều là các tuyên bố đơn phương được gửi tới một địa chỉ duy nhất [15, đoạn 31] hoặc ngược lại như Ai Cập gửi các tuyên bố liên quan đến kênh đào Suez đến không chỉ các quốc gia thành viên của Hội nghị Constantinople, đến các quốc gia thành viên của Hiệp hội những nước sử dụng kênh đào Suez mà còn đến cả toàn bộ cộng đồng quốc tế. Tính chất pháp lý của các tuyên bố đơn phương 1. Các yếu tố cấu thành tuyên bố đơn phương Các điều kiện cơ bản để một hành vi pháp lý có hiệu lực áp dụng phải đảm bảo: hành vi đó phải được đưa ra bởi một chủ thể của luật quốc tế, đối tượng phải hợp pháp và các quy tắc liên quan đến ý chí và hình thức phải được tuân thủ [47, tr.
Đầu tiên, phải phân định rõ ràng tính đơn phương của hành vi được đề cập, đảm bảo rằng các hành vi duy nhất đang được xem xét là những hành vi đơn phương về cả hình thức và bản chất [23, tr. Thứ hai, cần phân loại các hành vi đơn phương và vai trò vị trí của các hành vi này trong Luật pháp quốc tế.