Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền đưa ra tuyên bố trong cơ chế giải quyết tranh chấp của công ước luật biển 1982

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls quyền đưa ra tuyên bố trong cơ chế giải quyết tranh chấp của công ước luật biển 1982, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

90
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƯA RA TUYÊN BỐ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

1.1. Tuyên bố đơn phương

1.2. Định nghĩa, hình thức của tuyên bố đơn phương

1.3. Tính chất pháp lý của các tuyên bố đơn phương

1.4. Giá trị pháp lý của tuyên bố đơn phương

1.5. Tuyên bố bảo lưu

1.6. Định nghĩa, hình thức của tuyên bố bảo lưu

1.7. Tính chất pháp lý của tuyên bố bảo lưu

1.8. Hệ quả pháp lý của tuyên bố bảo lưu

1.9. Phân biệt Tuyên bố bảo lưu với một số tuyên bố đơn phương khác của quốc gia

1.10. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUYỀN ĐƯA RA TUYÊN BỐ THEO ĐIỀU 287 VÀ ĐIỀU 298 CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982

2.1. Tuyên bố lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp theo Điều 287 công ước Luật biển 1982

2.2. Thực tiễn đưa ra tuyên bố lựa chọn quyền tài phán của các quốc gia

2.3. Giá trị pháp lý của tuyên bố lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp

2.4. Tuyên bố đưa ra ngoại lệ theo Điều 298 của công ước Luật biển 1982

2.5. Thực tiễn đưa ra tuyên bố ngoại lệ theo quy định Điều 298 UNCLOS

2.6. Giá trị pháp lý của tuyên bố

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN ĐƯA RA TUYÊN BỐ Ở BIỂN ĐÔNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

3.1. Thực tiễn vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc

3.2. Tóm tắt nội dung vụ kiện

3.3. Áp dụng Điều 287 và Điều 298 của Công ước Luật Biển 1982 trong phán quyết của Tòa Trọng tài

3.4. Ý nghĩa phán quyết của Tòa về thẩm quyền

3.5. Một số khuyến nghị cho Việt Nam về việc lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển theo UNCLOS 1982

3.6. Quan điểm của Việt Nam về giải quyết tranh chấp ở Biển Đông

3.7. Một số khuyến nghị dành cho Việt Nam về vận dụng quyền đưa ra tuyên bố theo cơ chế giải quyết tranh chấp UNCLOS 1982

3.8. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng quan về Tuyên bố trong giải quyết tranh chấp theo Công ước Luật Biển 1982

Công ước Luật Biển 1982 (UNCLOS) là một văn bản pháp lý quan trọng trong việc điều chỉnh các vấn đề liên quan đến biển và đại dương. Tuyên bố trong giải quyết tranh chấp theo UNCLOS đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển. Tuyên bố này không chỉ thể hiện ý chí của quốc gia mà còn là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền lợi trên biển.

1.1. Định nghĩa và vai trò của Tuyên bố trong luật quốc tế

Tuyên bố là một công cụ pháp lý mà các quốc gia sử dụng để thể hiện ý chí của mình trong quan hệ quốc tế. Theo quy định của UNCLOS, tuyên bố có thể được sử dụng để lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp, từ đó tạo ra các nghĩa vụ pháp lý cho các bên liên quan.

1.2. Các loại Tuyên bố trong Công ước Luật Biển 1982

Có hai loại tuyên bố chính theo UNCLOS: Tuyên bố lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp và Tuyên bố ngoại lệ. Mỗi loại tuyên bố này có những đặc điểm và giá trị pháp lý riêng, ảnh hưởng đến cách thức giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia.

II. Vấn đề và thách thức trong việc đưa ra Tuyên bố theo UNCLOS

Việc đưa ra tuyên bố theo UNCLOS không phải lúc nào cũng dễ dàng. Các quốc gia thường gặp phải nhiều thách thức trong việc xác định nội dung và hình thức của tuyên bố. Sự khác biệt về quan điểm và lợi ích giữa các quốc gia có thể dẫn đến những tranh cãi và khó khăn trong việc thực hiện các tuyên bố này.

2.1. Những khó khăn trong việc xác định nội dung Tuyên bố

Nội dung của tuyên bố cần phải rõ ràng và cụ thể để tránh hiểu lầm. Tuy nhiên, việc xác định nội dung này thường gặp khó khăn do sự khác biệt về lợi ích và quan điểm giữa các quốc gia.

2.2. Tác động của các yếu tố chính trị đến Tuyên bố

Các yếu tố chính trị có thể ảnh hưởng lớn đến việc đưa ra tuyên bố. Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại hoặc các mối quan hệ quốc tế có thể làm thay đổi cách thức và nội dung của các tuyên bố.

III. Phương pháp giải quyết tranh chấp theo Tuyên bố trong UNCLOS

Công ước Luật Biển 1982 cung cấp nhiều phương pháp giải quyết tranh chấp, bao gồm hòa giải, trọng tài và xét xử. Các quốc gia có thể lựa chọn phương pháp phù hợp nhất với tình hình của mình thông qua các tuyên bố.

3.1. Hòa giải và vai trò của Tuyên bố

Hòa giải là một phương pháp phổ biến trong việc giải quyết tranh chấp. Tuyên bố có thể được sử dụng để xác định các nguyên tắc và điều kiện cho quá trình hòa giải, từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc đạt được thỏa thuận.

3.2. Trọng tài và Tuyên bố lựa chọn cơ chế

Trọng tài là một phương pháp giải quyết tranh chấp chính thức hơn. Tuyên bố lựa chọn cơ chế trọng tài cần phải được thực hiện một cách cẩn thận để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của quá trình giải quyết.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Tuyên bố trong giải quyết tranh chấp Biển Đông

Biển Đông là một khu vực có nhiều tranh chấp phức tạp. Việc áp dụng các tuyên bố theo UNCLOS trong khu vực này đã cho thấy những kết quả tích cực, nhưng cũng gặp nhiều thách thức.

4.1. Vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc

Vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc là một ví dụ điển hình về việc áp dụng các tuyên bố theo UNCLOS. Tòa Trọng tài đã đưa ra phán quyết quan trọng, xác định quyền lợi của các bên liên quan.

4.2. Những bài học rút ra từ thực tiễn

Thực tiễn giải quyết tranh chấp ở Biển Đông đã cho thấy tầm quan trọng của việc đưa ra tuyên bố rõ ràng và cụ thể. Các quốc gia cần học hỏi từ những kinh nghiệm này để cải thiện khả năng giải quyết tranh chấp trong tương lai.

V. Kết luận và tương lai của Tuyên bố trong giải quyết tranh chấp

Tuyên bố trong giải quyết tranh chấp theo Công ước Luật Biển 1982 đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các quốc gia. Tương lai của các tuyên bố này sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác và tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức

Nâng cao nhận thức về giá trị của các tuyên bố trong giải quyết tranh chấp là rất cần thiết. Các quốc gia cần hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình để có thể đưa ra các tuyên bố hiệu quả.

5.2. Hướng tới một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả hơn

Cần thiết phải phát triển một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả hơn, dựa trên các tuyên bố và nguyên tắc của UNCLOS. Điều này sẽ giúp các quốc gia giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và bền vững.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài luận bao gồm 3 chương chính sau đây: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về quyền đưa ra tuyên bố trong luật quốc tế. Chƣơng 2: Quyền đưa ra tuyên bố theo Điều 287 và Điều 298 của Công ước Luật Biển 1982. Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng các quy định về quyền đưa ra tuyên bố ở Biển Đông và một số khuyến nghị đối với Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƢA RA TUYÊN BỐ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 1.

Tuyên bố đơn phƣơng Căn cứ vào điều 38 khoản 1 Quy chế tòa án quốc tế quy định về nguồn của Luật quốc tế: Tòa án, với chức năng là giải quyết phù hợp với luật quốc tế các vụ tranh chấp được chuyển đến Tòa án, sẽ áp dụng: a. Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận; b. Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật; c. Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận d.

Với những điều kiện nêu ở điều 59, các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau được coi là phương tiện để xác định các qui phạm pháp luật. Trong cuốn: “Các giới hạn của Luật quốc tế và cách tiếp cận bình đẳng giới” của H.Charlesworth và Chinkin [20] đưa ra: Danh mục truyền thống những nguồn của Luật quốc tế ở điều 38 đảm bảo sự kiểm soát của một quốc gia đối với những gì được coi là luật, nhưng là sự phản ánh không đầy đủ hiện thực của luật pháp quốc tế đương đại. Nhiều hình thức lập pháp quan trọng khác đã được xác định, ví dụ thông qua nghị quyết của các tổ chức quốc tế như Đại hội đồng luật quốc tế, thực tiễn hoạt động của các tổ chức quốc tế và các văn bản quy tắc ứng xử quốc tế …. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Liệu một văn bản hoặc một lời nói được thực hiện bởi một người đứng đầu nhà nước mà không có bất cứ một cam kết, phản hồi hoặc chấp nhận từ bên đối phương, bên ngoài các cuộc đàm phán chính thức có được coi là nguồn của luật quốc tế từ đó làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý ràng buộc không? 1.

Định nghĩa, hình thức của tuyên bố đơn phương Theo cuốn Bách khoa toàn thư của Quỹ Max Planck vì Hòa bình và Luật pháp quốc tế: “Tuyên bố là công cụ mà các chủ thể của luật quốc tế thể hiện ý chí, ý định hoặc ý kiến của họ khi thực hiện quan hệ quốc tế. Đó là hình thức biểu hiện của các hành vi đơn phương mà chủ thể của luật quốc tế thực hiện, nhưng cũng có thể là một phần của thỏa thuận đa phương”. Ví dụ: Trong trường hợp các quốc gia áp dụng một tuyên bố chung hoặc nếu một điều ước quy định các tuyên bố đơn phương được thực hiện để xác định các cam kết của điều ước. Theo cuốn sách Hướng dẫn về Công ước của Liên Hợp quốc về Quyền của trẻ em (UNCRC) có đưa ra định nghĩa: Thuật ngữ Tuyên bố được sử dụng trong nhiều bối cảnh quốc tế khác nhau.

Tuyên bố trong Nhân quyền quốc tế không ràng buộc về mặt pháp lý mà thường được lựa chọn một cách chủ đích để chỉ ra rằng: các bên không có ý định để tạo ra nghĩa vụ ràng buộc mà chỉ muốn đưa ra những nguyện vọng nhất định. Như vậy, quyền đưa ra tuyên bố là một quyền đặc thù thuộc về quyền năng chủ thể của luật quốc tế, được biểu hiện trong tổng thể quyền và nghĩa vụ cơ bản theo quy định của pháp luật quốc tế. Các quyền và nghĩa vụ này tồn tại trên cơ sở chủ quyền quốc gia, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và quá trình tồn tại của các quốc gia đó [9]. Các chủ thể sẽ thực hiện quyền đưa ra tuyên bố bằng những hành vi đơn phương tuyên bố ý định của mình về những vấn đề trong quan hệ quốc tế.

Quyền này mang ý nghĩa quan trọng thể hiện việc tôn trọng ý kiến của các quốc gia, đồng thời, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nó phù hợp với sự ra đời và phát triển theo chiều hướng ngày càng tiến bộ của luật quốc tế và có liên hệ mật thiết với nội dung của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các quốc gia vẫn áp dụng quyền đưa ra tuyên bố đơn phương nhằm đưa ra quan điểm của mình dù cho tồn tại nhiều học thuyết mâu thuẫn về việc liệu có hay không hiệu lực pháp lý của các tuyên bố đơn phương. Ủy ban luật pháp quốc tế đã xác định hành vi đơn phương của quốc gia góp phần nền tảng cho sự phát triển luật pháp quốc tế tại phiên họp lần thứ 48 năm 1996. Ủy ban nhận định rằng mặc dù quyền này được phân tích rõ ràng cả trong những văn bản học thuật và chưa từng được nghiên cứu bởi cơ quan luật pháp quốc tế chính thức nào đồng thời các quốc gia áp dụng khá nhiều hành vi đơn phương và thực tiễn làm cơ sở cho các nguyên tắc pháp lý liên quan; một số các phán quyết của ICJ đã xem xét đến hành vi đơn phương nhưng chỉ mang giá trị tham khảo còn các văn bản điều ước vẫn là nguồn chủ yếu áp dụng.

Các tuyên bố đơn phương được quy định ít hoặc không có hiệu lực ràng buộc trong Luật pháp quốc tế trước những năm 1960 nhưng sự tồn tại và hiệu lực ngày càng được thừa nhận để ICJ có thể tuyên bố vào năm 1974: “Các quốc gia có thể thừa nhận các tuyên bố đơn phương và đặt niềm tin vào chúng và yêu cầu rằng những nghĩa vụ phát sinh phải được tôn trọng” [29, tr. Mặc dù phương pháp thỏa thuận là cách thông thường nhằm phát sinh quyền và nghĩa vụ trong luật pháp quốc tế, cho phép các quốc gia điều hòa và cân bằng các lợi ích, các tuyên bố đơn phương của quốc gia vẫn đóng vai trò quan trọng, là một biện pháp không thể thiếu khi đàm phán không thành trong quá trình hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Tại các quốc gia, các thỏa thuận, hiệp ước và các công ước quốc tế là một trong số các nguồn nổi bật được quy định trong điều 38 của quy chế tòa 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com án quốc tế ICJ, dù vậy, các tuyên bố đơn phương không được đề cập và thực sự đến nay chưa tồn tại một định nghĩa chính xác, thống nhất thế nào là tuyên bố đơn phương [41]. Tuy nhiên, các quốc gia có thể có được nghĩa vụ, dựa trên các quan hệ Hiệp ước, thông qua các hành vi không chính thức biểu hiện ý chí đơn phương [49].

ILC đã đưa ra định nghĩa: “Một tuyên bố đơn phương biểu hiện rõ ràng bởi một ý chí được xây dựng bởi các quốc gia với mục đích tạo ra nghĩa vụ pháp lý liên quan đến một hay nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế, được công nhận bởi quốc gia hay tổ chức quốc tế đó” [23]. Do đó, các hành vi tuyên bố đơn phương là biểu hiện cụ thể ý chí của một quốc gia [40, tr.270] có khả năng tạo gia hiệu lực pháp lý giống như bất kỳ hành vi nào khác của nhà nước. Như vậy, hành vi tuyên bố đơn phương chưa từng được định nghĩa cụ thể trong các điều ước quốc tế, cũng chưa có tuyên bố đơn phương nào được nhắc đến với một định nghĩa tổng quát kể cả Công ước Viên năm 1969. Xét đến hình thức của tuyên bố đơn phương, năm 1974, Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) trong vụ Thử nghiệm hạt nhân (Úc, New Zealand v.

Pháp) đã đưa ra: Về câu hỏi liên quan đến hình thức, phải được chú ý rằng đây không phải phạm vi mà luật pháp quốc tế áp đặt bất kì yêu cầu cụ thể hay nghiêm ngặt. Dù tuyên bố đưa ra bằng miệng hay bằng văn bản cũng không gây ra sự khác biệt quan trọng, lời tuyên bố đưa ra trong những trường hợp đặc biệt có thể tạo ra các cam kết quốc tế về mặt pháp luật mà không đòi hỏi phải được diễn đạt bằng hình thức văn bản. Do đó vấn đề hình thức không phải là vấn đề quyết định [29, tr. Thực tiễn đã chứng minh tuyên bố đơn phương tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như: Công hàm, Thông cáo, thư, các phát biểu … như Công hàm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Phủ Tổng thống gửi đến New Zealand, Thông cáo của Đại Sứ quán Pháp gửi New Zealand, thư của Tổng thống Pháp gửi Thủ tướng New Zealand và các phát biểu của Ngoại trưởng Pháp trong buổi họp báo cũng như trước Đại Hội Đồng.

Ngoài ra, số lượng quốc gia tiếp nhận tuyên bố đơn phương không giới hạn, một tuyên bố có thể gửi đến cộng đồng quốc tế hay chỉ một vài quốc gia hoặc những đối tượng khác [19, điều 6]. Ví dụ: Trong vụ phân định biển và các vấn đề về lãnh thổ giữa Qatar và Bahrain, các bức thư trao đổi giữa Quốc vương Arab và Tiểu vương Qatar, giữa Quốc vương Arab và Tiểu vương Bahrain đều là các tuyên bố đơn phương được gửi tới một địa chỉ duy nhất [15, đoạn 31] hoặc ngược lại như Ai Cập gửi các tuyên bố liên quan đến kênh đào Suez đến không chỉ các quốc gia thành viên của Hội nghị Constantinople, đến các quốc gia thành viên của Hiệp hội những nước sử dụng kênh đào Suez mà còn đến cả toàn bộ cộng đồng quốc tế. Tính chất pháp lý của các tuyên bố đơn phương 1. Các yếu tố cấu thành tuyên bố đơn phương Các điều kiện cơ bản để một hành vi pháp lý có hiệu lực áp dụng phải đảm bảo: hành vi đó phải được đưa ra bởi một chủ thể của luật quốc tế, đối tượng phải hợp pháp và các quy tắc liên quan đến ý chí và hình thức phải được tuân thủ [47, tr.

Đầu tiên, phải phân định rõ ràng tính đơn phương của hành vi được đề cập, đảm bảo rằng các hành vi duy nhất đang được xem xét là những hành vi đơn phương về cả hình thức và bản chất [23, tr. Thứ hai, cần phân loại các hành vi đơn phương và vai trò vị trí của các hành vi này trong Luật pháp quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ