Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của tuổi chịu TNHS 1. Khái niệm tuổi chịu TNHS Theo Đại từ điển Tiếng Việt – NXB Văn hóa thông tin năm 1998 tr.1750 thì tuổi là: “Năm, dùng làm đơn vị tính thời gian sống của người, là khoảng thời gian từ khi sinh ra đến thời điểm xác định nào đó”. Như vậy, tuổi của một người được tính từ khi người đó sinh ra cho đến thời điểm tính tuổi của người đó.
Tuổi được tính theo năm vì đó là quãng thời gian kết thúc một chu kỳ sinh học của con người phù hợp với sự vận động, phát triển chung của thế giới kết thúc một vòng quy của trái đất quanh mặt trời. Trách nhiệm hình sự là “trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của mình”[ Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân 1999 tr.21] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trách nhiệm hình sự chính là dạng trách nhiệm pháp lí bao gồm “nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích”. Nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
Một trong các yếu tố cấu thành tội phạm là chủ thể của tội phạm. Hai dấu hiệu quan trọng nhất mà tất cả các chủ thể đều phải được xác định là tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được xác định trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia, mà chỉ đến độ tuổi đó trở về sau, một người thực hiện hành vi phạm tội mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bên cạnh việc xác định tuổi như là ngưỡng chịu trách nhiệm hình sự, tuổi cũng là yếu tố để để xác định loại hoặc mức trách nhiệm mà họ phải gánh chịu khi phạm tội.
Chính vì vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là yếu tố không thể thiếu trong quá trình xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người. Trên cơ sở phân tích về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như trên, có thể rút ra định nghĩa về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được luật hình sự quy định nhằm xác định khi một người phát triển đến độ tuổi đó mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc loại trách nhiệm, mức trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do mình gây ra 1. Các đặc điểm cơ bản của tuổi chịu TNHS 1. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự do luật hình sự quy định Xét về tính hệ thống, các quy định của ngành luật này trong cùng một hệ thống có thể sử dụng để phân tích làm sang tỏ nội dung các quy phạm pháp luật của ngành luật khác.
Tuy nhiên, nhiều nội dung có tính đặc thù, chuyên biệt thì chung ta cần phải xác định nội dung theo quy định của ngành luật đó. Vấn đề độ tuổi để xác định tư cách chủ thể là một nội dung có tính chuyên biệt, được xác định theo từng ngành luật. Mỗi ngành luật có cách xác định khác nhau về dộ tuổi. Chính vì vậy, về nguyên tắc, khi xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chúng ta 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cần căn cứ vào những quy định của luật hình sự mà không viện dẫn các quy định của các ngành luật khác.
Chỉ trong những trường hợp luật hình sự dẫn chiếu sang quy định của các ngành luật khác thì chúng ta mới sử dụng cách tính tuổi của ngành luật đó để xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là tuổi tròn Mỗi ngành luật đều có cách thức để xác định tuổi của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật do ngành luật mình điều chỉnh. Đối với chủ thể của tội phạm, luật hình sự Việt Nam xác định tuổi là theo tuổi tròn. Điều này thể hiện trong các quy định cụ thể.
Tại điều 12 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự đều quy định: “người từ đủ 16 tuổi.” và “người từ đủ 14 tuổi”. tuổi tròn ở đây là ngưỡng để tỉnh tuổi tối thiểu của người phạm tội và tuổi tối đa của người bị hại trong trường hợp tuổi của người bị hại chi phối tới việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Cách tính tuổi tròn được xác định bằng cách lấy ngày sinh nhật gần nhất của người đó để tính. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi luật hình sự dẫn chiếu sang ngành luật khác thì chúng ta áp dụng cách tính tuổi của ngành luật đó.
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự tính từ thời điểm người đó sinh ra đến thời điển người đó thực hiện hành vi phạm tội Thời điểm đầu để xác định tuổi của người phạm tội là ngày người đó được sinh ra. Thời điểm sinh được xác định dựa và các loại giấy tờ có giá trị pháp lý gắn liền với nhân thân của người đó như giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, cá loại văn bằng, chứng chỉ. Nhưng trên thực tế không phải khi nào chúng ta cũng có các loại giấy tờ trên để xác định tuổi. Trong nhiều trường hợp, chúng ta không có cơ sở pháp lý vững chắc để xác định ngày sinh của người phạm tội.
Trong những trường hợp này, chúng ta phải xác định ngày sinh của người phạm tội theo nguyên tắc có lợi cho đương sự. Thời điểm sau để xác định độ tuổi đó là thời điểm hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện. Hành vi được thực hiện ngày nào thì ngày đó được sử dụng để tính tuổi của đương sự. Đối với những trường hợp hành vi phạm tội là hành vi kéo dài hoặc hành vi có tính liên tục mà tuổi của đương sự có tính chất “giáp ranh” ảnh hướng để việc xác định trách nhiệm hình sự, ta cần xem xét 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cụ thể để tách hành vi đó ở các độ tuổi khác nhau để xem xét trách nhiệm hình sự được chính xác.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc quy định tuổi chịu TNHS trong luật hình sự Việt Nam 1. Cơ sở tâm sinh lý học Tại Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện…”, tuy nhiên một người chỉ có thể có năng lực trách nhiệm hình sự khi người đó đạt đến một độ tuổi nhất định, việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự dựa trên những căn cứ nhất định, mà trước tiên là những căn cứ khoa học. Một người, từ khi sinh ra không thể nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, người đó không thể có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nếu như chưa đạt đến một sự phát triển nhất định, sự phát triển của trẻ đó đi liền với sự phát triển về tâm sinh lý. Dựa trên những quan điểm triết học khác nhau, người ta hiểu về trẻ em cũng rất khác nhau, Có quan điểm cho rằng trẻ em là “người lớn thu nhỏ”, sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn về mọi mặt (cơ thể, tư tưởng, tình cảm…) chỉ ở tầm cỡ, kích thước, chứ không khác nhau về chất.
Nhưng ngay từ thể kỷ thứ XVIII J.J Rútxô (1712-1778) đã nhận xét rất tinh tế về những đặc điểm tâm lý của trẻ nhỏ. Theo ông, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ và người lớn không phải lúc nào cũng hiểu được trí tuệ, nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ thơ… vì trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó, sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất. Những nghiên cứu của tâm lý học duy vật biện chứng đã khẳng định: Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, trẻ em là trẻ em, nói vận động và phát triển theo quy luật của trẻ em. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là một con người, một thành viên của xã hội.
Việc nuôi nấng, dạy dỗ nó khải khác với con vật. Để nó tiếp thu được nền văn hóa xã hội của loài người, đòi hỏi phải nuôi dạy theo kiểu người, trẻ phải được bú sữa mẹ, được ăn chín, ủ ấm và nhất là cần được âu yếm, thương yêu. Ngay từ khi ra đời 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đứa trẻ đã có nhu cầu đặc trưng của con người - nhu cầu giao tiếp với người lớn. Người lớn cần có những hình thức riêng, “ngôn ngữ” riêng để giao tiếp với trẻ.
Quan niệm duy tâm coi sự phát triển tâm lý trẻ em chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về số lượng các hiện tượng đang phát triển mà không có sự chuyển biến về chất lượng. Ví dụ: họ coi sự phát triển tâm lý trẻ em là sự tăng số lượng từ của trẻ, tăng tốc độ hình thành kỹ xảo, tăng thời gian tập trung chú ý, hay khối lượng tri thức được giữ lại trong trí nhớ… Sự tăng về số lượng của các hiện tượng tâm lý có ý nghĩa nhất định trong sự phát triển của trẻ, nhưng không thể giới hạn toàn bộ sự phát triển tâm lý của trẻ em vào những chỉ số ấy. Từ đó, những người theo quan niệm này đã nhìn nhận không kém sai lầm về nguồn gốc của sự phát triển tâm lý. Quan niệm này xem sự phát triển của mỗi hiện tượng như là một quá trình diễn ra một cách tự phát.
Sự phát triển diễn ra dưới ảnh hưởng của một sức mạnh nào đó mà người ta không thể điều khiển được, không nhận thức được. Những quan điểm duy tâm thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người là bất biến hoặc tiền định, hoặc do tiềm năng sinh vật di truyền, hoặc là ảnh hưởng của môi trường bất biến. Với quan niệm như vậy thì trong trường hợp nào con em của tầng lớp có đặc quyền, đặc lợi cũng đều có trình độ phát triển tâm lý hơn hẳn con em giai cấp bóc lột (do có yếu tố di truyền tốt hơn hoặc do họ sống trong môi trường trí tuệ có tổ chức cao hơn).