phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung của luận văn gồm ba chương: CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI CHƢƠNG 2. TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 CHƢƠNG 3.
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 1. Khái niệm về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Trước BLHS năm 1985, khái niệm “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” 2 gọi là “tự nguyện đình chỉ” - Đây là cách gọi tắt chứ bản thân nó chưa phản ánh cái gì cả. Theo từ Điển Luật học khái niệm này được hiểu: “Là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản.
Đây là trường hợp tự nguyện chấm dứt hẳn hành vi phạm tội đã bắt đầu thực hiện mặc dù có khả năng thực tế để tiếp tục phạm tội. Chỉ có thể tự nguyện chấm dứt việc phạm tội trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt. Khi tội phạm đã hoàn thành thì không thể cho là trường hợp tự nguyện chấm dứt việc phạm tội. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về tội định thực hiện.
Nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố của một tội khác thì người đó phải chịu TNHS 3 về tội này”. Để thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ thì BLHS năm 1985 đã chính thức quy định khái niệm về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội tại Điều 16 và sau đó tiếp tục được ghi nhận trong BLHS năm 1999 tại Điều 19 và BLHS năm 2015 tại Điều 16 với nội dung như sau: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản”. Hiện nay, trong khoa học luật hình sự vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, cụ thể như sau:Theo các tác giả của trường Đại học Cảnh sát nhân dân cho rằng: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trường hợp người phạm tội tự nguyện ngừng hẳn việc thực hiện tội 4 phạm mà không có gì ngăn cản”. 2 Đinh Văn Quế (1999), Pháp luật thực tiễn và án lệ, Nhà xuất bản.
3 Viện Khoa học Pháp Lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, tr. 4 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (1995), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - phần chung, Nhà xuất bản. Công an Nhân dân Hà Nội, tr. 8 Còn theo các tác giả của trường Đại học Quốc gia Hà Nội thì: “…Đây là trường hợp chủ thể đã tự mình chủ động đình chỉ hành vi phạm tội, mặc dù không 5 có gì ngăn cản người đó thực hiện tội phạm đến cùng”.
Quan điểm của tác giả Lê Cảm cho rằng: “Tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm là trường hợp mà trong đó mặc dù người phạm tội có đầy đủ điều kiện khách quan thực hiện được tội phạm đến cùng nhưng đã tự mình đình chỉ hành vi chuẩn bị 6 phạm tội hoặc hành vi cố ý để thực hiện tội phạm, tuy không có gì ngăn cản”. Một quan điểm khác cho rằng: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam, thể hiện sự tự nguyện dứt khoát của một người không thực hiện ý định hoặc hành vi phạm tội của mình đến cùng 7 mặc dù họ có khả năng thực hiện và điều kiện khách quan không có gì ngăn cản”. Còn theo quan điểm của các tác giả Lê Cảm, Vũ Trung và Nông Thị Quỳnh Như thì cho rằng: “Tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm là khi người phạm tội mặc dù có đầy đủ điều kiện khách quan để thực hiện được tội phạm đến cùng, nhưng đã tự mình đình chỉ hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc hành vi cố ý để thực hiện tội phạm 8 tuy không có gì ngăn cản”. Nhìn chung, khi nghiên cứu các quan điểm trên và cách quy định của BLHS hiện hành, tác giả nhận thấy tuy các quan điểm trên và cách quy định của BLHS có sự diễn đạt khác nhau về khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nhưng đều thống nhất về nội hàm của nó đó là các điều kiện khách quan và chủ quan của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là người phạm tội đã tự nguyện chấm dứt hành vi phạm tội theo ý chí chủ quan của họ mặc dù điều kiện khách quan không có gì ngăn cản.
Về thời điểm được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt. Tuy nhiên, trong các quan điểm trên chúng ta có thể thấy quan điểm của các tác giả Lê Cảm, Vũ Trung và Nông Thị Quỳnh Như là quan điểm khác biệt nhất so với các quan điểm trên khi không sử dụng thuật ngữ “việc phạm tội” trong mệnh đề “tự ý nửa chừng chấm dứt 5 Trường Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Luật hình sự - phần chung, Nhà xuất bản. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 6 Lê Cảm (2002), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, tập IV, Nhà xuất bản.
Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 7 Trịnh Tiến Việt (2006), “Về trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cho người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Số 2, tr. 8 Lê Cảm, Vũ Trung và Nông Thị Quỳnh Như (2021), “Các giai đoạn phạm tội và tiếp tục hoàn thiện điều khoản có liên quan trong pháp luật hình sự tương lai”, Tạp chí Kiểm sát, Số 1, tr. 9 việc phạm tội” mà thay bằng “tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm”.
Bởi lẽ, các tác giả này cho rằng thuật ngữ “việc phạm tội” mới chỉ đề cập đến hành vi tự nguyện chấm dứt tội phạm của một loại người phạm tội là “người thực hành” khi người này “phạm tội” (vì động từ “phạm” và danh từ “tội” tạo thành cụm từ “thực hiện tội phạm”). Như vậy, động từ nói lên hành vi đó hoàn toàn khác với động từ biểu thị hành vi của ba loại người đồng phạm khác (người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức). Bởi vì, thực tế là họ không trực tiếp “phạm tội” (tức “thực hiện tội phạm” mà hành vi của ba loại người đồng phạm nếu chính xác là họ chỉ “tham gia vào” 9 việc “phạm tội” (tức tham gia vào việc thực hiện tội phạm). Người viết đồng ý với quan điểm của các tác giả trên.
Bởi lẽ, việc sử dụng thuật ngữ “việc phạm tội” trong tên gọi Điều 16 BLHS hiện hành và cả trong nội dung được quy định tại điều luật đó thực chất là mới chỉ đề cập đến hành vi tự nguyện chấm dứt tội phạm và vấn đề TNHS của người thực hành mà chưa giải quyết vấn đề TNHS của cả ba loại người đồng phạm còn lại (người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức) khi họ tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm. Vì ba loại người đồng phạm đã nêu không phải là người trực tiếp thực hiện tội phạm mà hành vi của họ chỉ là tham gia vào việc thực hiện tội phạm, điều đó có nghĩa là họ không trực tiếp thực hiện tội phạm. Vì vậy, nên chăng ở đây cần bỏ từ „việc” đi và chỉ sử dụng thuật ngữ “tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm” thì mới đảm bảo được tốt ba tiêu chí về kỹ thuật lập pháp đó là hợp lý về mặt thực tiễn, sự chính xác về mặt khoa học và sự chặt chẽ về mặt cấu trúc. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 16 BLHS năm 2015 thì: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản”.
Theo đó, việc không thực hiện tiếp hành vi phạm tội phải là “tự mình” và “không có gì ngăn cản”, từ hai dấu hiệu này chúng ta có thể gộp thành yếu tố “tự nguyện”. Từ đó có thể thấy, với cách quy định của BLHS hiện hành thì mới chỉ thể hiện được yếu tố “tự nguyện” không thể hiện được yếu tố “dứt khoát” trong khi về mặt lý luận thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải đảm bảo cả hai yếu tố “tự nguyện” và “dứt khoát”. Về vấn đề này, 10 chúng ta có thể tham khảo cách quy định của BLHS Liên bang Nga. Ngoài ra, theo quy định của BLHS hiện hành và hầu hết các quan điểm trên đều dùng cụm từ “tuy không có gì ngăn cản” để thể hiện ý chí tự nguyện không 9 Lê Cảm, Vũ Trung và Nông Thị Quỳnh Như (2021), tlđd (8), tr.
10 thực hiện tội phạm đến cùng của người phạm tội. Về vấn đề này có quan điểm cho rằng việc sử dụng cụm từ trên là không chính xác, không đúng với bản chất của chế định này. Vì đây là chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, việc xem xét chủ thể có thực sự tự ý hay không, chúng ta không chỉ căn cứ vào thực tế khách quan để đánh giá mà phải xem xét thực tế khách quan đó có được chủ thể nhận thức được hay không, trở ngại khách quan chỉ tác động đến quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng của một người khi họ nhận thức được điều đó. Vì vậy nên thay cụm từ 11 trên bằng cụm từ “mặc dù họ ý thức được khả năng thực hiện tội phạm đến cùng”.
Tác giả đồng ý với quan điểm này, bởi vì việc dừng lại không thực hiện tội phạm đến cùng hoàn toàn xuất phát từ ý chí chủ quan của người phạm tội, để đưa ra được quyết định này người phạm tội phải dựa vào nhận thức và đánh giá của mình về thực tại khách quan có trở ngại hay không. Do đó, khi xác định người phạm tội có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội hay không thì phải xem xét họ có nhận thức rằng thực tại khách quan không có gì ngăn cản chứ không phải xác định xem thực tại khách quan không có gì ngăn cản việc tiếp tục thực hiện tội phạm.