phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn bao gồm 2 chương 7 tiết. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TƢ TƢỞNG XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƢỚC THỜI LÊ SƠ VÀ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 1. Cơ sở lý luận Tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ và Quốc triều hình luật được hình thành xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nhất định. Cơ sở lí luận của tư tưởng ấy là sự kế thừa tư tưởng của nhiều học thuyết triết học, trong đó, nổi bật là Nho giáo, Phật giáo, Pháp gia và các giá trị truyền thống của dân tộc.
Nho giáo Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội của Trung Quốc, du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và ảnh hưởng khá lớn đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và con người, đặc biệt dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông, khi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn. Những tư tưởng của Nho giáo có ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ và Quốc triều hình luật, biểu hiện cụ thể ở một số nội dung: Thứ nhất, tư tưởng tôn quân quyền và bảo vệ hoàng tộc Nho giáo đặc biệt đề cao địa vị và uy quyền của nhà vua, như Khổng Tử nói: “Phàm người ta đã quần tụ với nhau thành xã hội thì tất phải có quyền tối cao để giữ kỷ cương cho đoàn thể. Cái quyền ấy gọi là quân quyền, tức là quyền chủ tể cả một nước” [29, tr. Theo tư tưởng của Nho giáo, quân quyền phải để một người giữ cho rõ cái mối thống nhất (thường được gọi là vua).
Vua phải lo việc trị nước, tức là chăm lo đời sống vật chất, dạy dỗ và mở mang cho dân. Vua còn được coi là thiên tử, là con trời. Vua thay trời hành đạo, được trời trao cho cái quyền tối cao ấy nhưng mệnh trời chỉ trao 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho những ai làm điều lành, tránh điều ác, vì vậy người làm vua không được lạm dụng uy quyền và thế lực ấy mà làm điều tàn bạo. Liên quan đến đặc quyền đối với vua là đặc quyền đối với họ hàng, hoàng tộc của vua, họ được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi thuộc giới hoàng thân quốc thích, được học tập, thi cử rồi làm quan dưới triều vua trị vì… Có thể nói, tư tưởng Nho giáo đề cao quyền lợi của giai cấp quý tộc, người quân tử đối lập với kẻ tiểu nhân, bần hàn.
Thứ hai, học thuyết về đạo đức của Nho giáo Đạo đức Nho giáo thể hiện tập trung trong những mối quan hệ cơ bản (Tam cương) với 5 đức chủ yếu (Ngũ thường). Nho giáo đưa ra các phạm trù Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức. làm chuẩn mực cho mọi hành động của con người trong xã hội. Tam cương và Ngũ thường là lẽ đạo đức mà mọi người phải theo.
Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà người phụ nữ phải theo. Những tiêu chuẩn đạo đức của Nho giáo nhằm đánh giá về một con người, hướng đến mẫu người lý tưởng, mẫu mực về mọi mặt để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Thứ ba, những tiêu chuẩn về mặt đạo đức của nhà vua, người cầm quyền Vua là người có uy quyền cao nhất, giúp việc cho nhà vua là hệ thống quan lại. Quan là những người có đức có tài được lựa chọn ra để giúp vua trị nước, trị dân.
Một nước trị hay loạn là do ở vua và quan giỏi hay bất tài, bất đức. Bởi vậy mà người cầm quyền phải là người có trách nhiệm và những tiêu chuẩn đạo đức nhất định. Trước hết là đạo quân thần, quan lại phải là người trung với vua, phục vụ tận tụy vì đất nước, vì nhân dân. Theo Nho giáo, những người làm chính trị, cả vua và bề tôi đều được coi là người cầm quyền, họ phải là những người đạt được cả nhân đạo và thiên đạo.
Khổng Tử cho rằng, người làm chính trị 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mà có đức nhân thì như sao Bắc đẩu, đứng yên một chỗ mà mọi ngôi sao khác đều chầu về. Nho giáo quan niệm các vua chúa và những người cầm quyền có trọng trách phải sửa mình và phải học. Vì vậy, theo Nho giáo, đối với người cầm quyền cần phải tự ý thức để tu thân, làm gương cho dân chúng. Người cầm quyền cũng giống như dân thường, tối thiểu phải có những đức như dân thường, đồng thời phải có đức của người cầm quyền để giáo hóa dân, cảm hóa dân.
Vì vậy, sự tu thân của người nắm quyền phải chỉnh chu, cầu toàn hơn sự tu thân của dân thường. Bên cạnh đó, người làm quan phải có những phẩm chất đạo đức nhất định, Nho giáo đưa ra những phẩm chất đối với người làm quan, đó là: chính, kính, tín, lễ, nhân. Chính là sự ngay thẳng, chính trực trong khi làm việc. Kính là sự cung kính đối với nhà vua, với dân và trong việc trị dân.
Tín là giữ lời hứa với dân để cho dân tin mình, tín đi liền với hành động. Người làm quan phải biết trọng lễ hơn ai hết, biết giữ lễ để duy trì trật tự xã hội. Nhân là đức quan trọng nhất đối với người cầm quyền, Khổng Tử cho rằng, lễ chỉ là ngọn, nhân mới là gốc. Nhà cầm quyền mà không có đức nhân thì càng không trọng lễ, càng thủ cựu, càng dễ hóa ra độc tài.
Nếu cai trị mà chỉ dùng lễ thì chính sách sẽ là lễ trị, không khác gì pháp trị, nhưng có nhân thì sẽ là đức trị hay nhân trị: trị dân bằng đức nhân, trọng tư cách, tài đức của người trị dân hơn là pháp điển, chế độ. Một nội dung khác của Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc đối với tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước Lê sơ và Quốc triều hình luật là quan niệm về dân, vai trò của dân, là thái độ trách nhiệm của nhà vua, đội ngũ quan lại đối với dân. Nho giáo coi dân là gốc của nước, không có dân thì không có nước, không có vua. Dân không chỉ là lực lượng nuôi dưỡng, phụng dưỡng 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mà còn là lực lượng bảo vệ nhà vua, người cầm quyền.
Vai trò của dân theo Nho giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hưng thịnh, suy vong của chế độ. Dân có vai trò to lớn trong xã hội, do vậy chính sách trị nước như thế nào đều phải xuất phát từ ý dân, lòng dân. Bởi theo Nho giáo, dân là tầng lớp đông đảo trong xã hội, là những người mà Mạnh Tử gọi là “lao lực”, tức là làm việc mệt nhọc bằng sức lực chân tay để tạo ra của cải vật chất cho chính họ, gia đình họ và cả tầng lớp cai trị. Dân đồng thời là gốc nước, là nền tảng của nền chính trị, không có họ thì không có vua, không có nước.
Dân là người không chỉ nuôi dưỡng, phụng dưỡng mà còn là lực lượng bảo vệ nhà vua, người cai trị. Thêm nữa, coi trọng dân, vua, quan phải luôn coi việc nuôi dưỡng dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Nhiệm vụ cơ bản của chính sách dưỡng dân là phải chăm lo đời sống vật chất của dân để dân không bị chết rét, chết đói. Nhà vua còn phải giúp dân làm giàu, giúp dân có tài sản riêng, phải “quy định điền sản cho dân, dạy dân biết trồng trọt, chăn nuôi, hướng dẫn vợ con, khiến họ phụng dưỡng những người già trong gia đình” [22, tr.
Nho giáo còn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải là người bảo hộ dân, không ham giết người, giết dân, phải giảm hình phạt cho dân nếu dân phạm tội. Có như vậy, dân sẽ quy phục nhà vua mà không có uy lực nào cản được. Muốn cai trị đất nước, trị dân và hợp lòng dân, ngoài dưỡng dân, Nho giáo còn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải chú trọng giáo hóa dân. Theo Nho giáo, dạy dân là một cách yêu dân, dân được giáo hóa thì dễ sai bảo, dễ trị, nếu kết quả của sự giáo hóa cực tốt thì nhà cầm quyền chẳng phải làm gì mà nước trị.
Bên cạnh đó, Nho giáo cũng chỉ rõ thái độ, trách nhiệm của vua, quan đối với dân. Vua thì phải dạy dỗ, lo cho dân “có hằng sản thì mới có hằng tâm”, cùng no đói, vui buồn với dân. Người làm quan phải biết sai khiến dân 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho hợp lẽ, ban ân huệ và trông nom đời sống của dân, thấy dân đói khổ thì hết lòng cứu vớt, vậy mới được dân tin yêu; khi gặp tai biến dân mới liều chết mà tiếp cứu cho mình. Ngoài ra, tư tưởng về giáo dục, đề cao giáo dục để tuyển chọn người tài của Nho giáo cũng có ảnh hưởng tới sâu sắc tới tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ.
Để xây dựng nên một chính quyền vững mạnh cần có những người tài giỏi. Nho giáo đặc biệt đề cao giáo dục nhằm tìm kiếm nhân tài để xây dựng nên một chính quyền vững mạnh, một đất nước cường thịnh. Như vậy, Nho giáo với những nội dung tư tưởng trên có ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ và Quốc triều hình luật. Đặc biệt là tư tưởng đề cao, coi trọng đạo đức, trách nhiệm và thái độ của nhà vua, người cầm quyền đối với nhân dân.
Phật giáo Đạo Phật truyền vào nước ta khoảng thế kỉ thứ II trước công nguyên. Với những đóng góp to lớn, nó đã trở thành một trong những hệ tư tưởng - tôn giáo có sức sống lâu dài, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần con người Việt Nam. Phật giáo du nhập vào nước ta chủ yếu là Phật giáo Đại thừa, với cả 3 tông phái: Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông. Trong đó, nổi hơn cả, hấp dẫn hơn cả là Tịnh độ tông.
Tịnh độ tông với chủ trương niệm phật A-di-đà, sự tôn thờ Phật quan thế âm và quan niệm sống từ bi hỉ xả, khi chết sẽ được lên cõi niết bàn, thoát khỏi cảnh trầm luân, khổ ải ở kiếp sau đã phản ánh và thể hiện nhu cầu thoát khổ, thoát nạn của con người trần gian, nên đã có sức lôi cuốn đặc biệt. Đạo Phật thường được gọi là đạo từ bi, đạo cứu khổ. Phương châm tu tập của Phật giáo là từ, bi, hỷ, xả hay triết lý khoan dung.