Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG PHÂN QUYỀN 1. Quyền lực nhà nước và cách thức thực hiện quyền lực nhà nước Quyền lực là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu và bởi nhiều nhà tư tưởng của nhiều thời đại, song cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa về quyền lực được đông đảo mọi người, từ các học giả đến các nhà hoạt động thực tiễn thừa nhận. Do vậy mà có khá nhiều quan niệm khác nhau về quyền lực. Song với nghĩa chung nhất có thể hiểu quyền lực là sức mạnh mà nhờ đó một chủ thể (cá nhân, tổ chức, giai cấp hoặc toàn xã hội) có thể bắt các chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình.
Theo nghĩa này, quyền lực ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của con người, bởi vì, hoạt động phối hợp, hoạt động chung mang tính cộng đồng là cái vốn có trong hoạt động của con người. Bất kỳ hoạt động chung nào cũng đòi hỏi cần có người tổ chức, người chỉ huy và những kẻ phục tùng - cái vốn tạo thành nội dung sơ khai cũng như nội dung hiện đại của phạm trù quyền lực. Trong xã hội có giai cấp thì chủ thể có đủ khả năng chỉ huy và phối hợp hoạt động của tất cả các chủ thể khác chính là nhà nước nên quyền lực nhà nước là thứ quyền lực quan trọng nhất. Từ quan niệm chung nhất về quyền lực, có thể hiểu quyền lực nhà nước là sức mạnh của nhà nước có thể bắt các chủ thể khác trong quốc gia (các tổ chức, cá nhân, giai cấp, tầng lớp) phải phục tùng ý chí của nó.
Nhờ có quyền lực này mà nhà nước có đủ khả năng làm dịu xung đột giai cấp hoặc giữ cho xung đột ấy ở trong vòng một "trật tự" nhất định để xã hội có thể tồn tại và phát triển được. Cũng nhờ có quyền lực đó mà nhà nước có thể thực hiện và bảo vệ được quyền lợi và địa vị thống trị của giai cấp thống trị, có thể tổ chức và quản lý xã hội, thiết lập, củng cố, bảo vệ trật tự và sự ổn định của xã hội, làm cho xã hội phát triển theo chiều hướng mà nó mong muốn. Quyền lực nhà nước chỉ do các cơ quan nhà nước thực hiện. Muốn cho quyền lực này được thực hiện một cách có hiệu quả thì phải tìm cho nó một hình thức tổ chức và phương pháp thực hiện phù hợp.
Việc tìm kiếm ấy đã trở 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành trung tâm chú ý của tất cả các nhà tư tưởng chính trị tiến bộ của loài người từ khi nhà nước ra đời tới nay. Vì thế, trong các tư tưởng chính trị, vấn đề hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước bao giờ cũng là vấn đề trọng tâm, cơ bản và quan trọng nhất. Hình thức ấy được gọi bằng những cái tên rất khác nhau. CN) gọi đó là những hình thức chính trị, Aristote (384-322 tr.
CN) gọi nó là hình thức chính phủ, Bertrand Russell gọi là hình thức chính quyền, còn chúng ta gọi nó là hình thức chính thể. Trong các nhà nước có hình thức chính thể khác nhau, cách thức thực hiện quyền lực nhà nước rất khác nhau. Ở các nước quân chủ chuyên chế, toàn bộ quyền lực cao nhất của nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp đều tập trung trong tay nhà vua. Vua được mệnh danh là Thiên tử nên quyền lực của vua là vô hạn, là tối cao và bất khả xâm phạm.
Mọi mệnh lệnh, chiếu chỉ, ý chỉ, thậm chí khẩu dụ của nhà vua đều có giá trị bắt buộc phải tuân theo, đều là pháp luật nên pháp luật chủ yếu là sự thể hiện ý chí của nhà vua. Các quan chức nhà nước - những người tổ chức thực hiện các mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhà vua đều do vua cắt cử và bãi chức. Vua cũng là vị quan tòa tối cao để phán xử các vụ án quan trọng nhất. Việc làm của các quan chức và của thần dân có thể được vua xem xét đúng sai, tùy công mà vua thưởng, vua ban lộc, tùy tội mà vua quyết định hình phạt.
Khi vua "băng hà", quyền lực của vua phải được truyền kế một cách nghiêm ngặt theo trật tự "cha truyền con nối", để đảm bảo sự dài lâu của vương triều, của "cơ nghiệp tổ tông". Ở những nước quân chủ hạn chế, quyền lực của vua bị hạn chế bởi các thế lực khác nhau (cơ quan đại diện của các đẳng cấp, nghị viện hoặc hiến pháp) và trong những lĩnh vực nhất định. Nếu như trong chính thể Quân chủ Đại diện đẳng cấp, vua chỉ phải tham khảo ý kiến của cơ quan đại diện đẳng cấp khi tăng thuế, thay đổi luật hoặc ban hành luật mới thì trong chính thể Quân chủ Nhị hợp, quyền lực của vua bị hạn chế trong lĩnh vực lập pháp (quyền lập pháp thuộc về nghị viện) và tư pháp (quyền tư pháp thuộc về tòa án), song lại được mở rộng trong lĩnh vực hành pháp. Vua vừa đứng đầu quốc gia, vừa đứng đầu chính phủ, nắm toàn quyền hành pháp.
Các bộ trưởng do vua bổ nhiệm và bãi nhiệm, chịu trách nhiệm trước vua nên được coi là bộ trưởng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của vua. Còn trong chính thể Quân chủ Đại nghị, quyền lực của vua bị hạn chế trong cả ba lĩnh vực, quyền lập pháp do nghị viện thực hiện, quyền hành pháp được thực hiện bởi chính phủ mà đứng đầu là thủ tướng, còn quyền tư pháp được thực hiện bởi tòa án. Thẩm quyền và mối quan hệ giữa các cơ quan trên được quy định trong hiến pháp. Chức vị vua chỉ còn mang tính chất truyền thống, nghi lễ và tượng trưng vì vua không trực tiếp giải quyết các công việc của nhà nước mà chỉ đóng vai trò chính thức hóa các hoạt động của nhà nước.
Trong các nhà nước tư sản có chính thể cộng hòa, các loại quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước thường được trao cho các cơ quan khác nhau là nghị viện, tổng thống, chính phủ và tòa án. Các cơ quan này có thể chung hoặc không chung nhân viên với nhau, có thể độc lập hoặc chịu trách nhiệm lẫn nhau, có thể kiềm chế và kiểm soát lẫn nhau, hoặc kiềm chế và đối trọng với nhau trong hoạt động theo nguyên tắc "quyền lực ngăn cản quyền lực". Còn ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa trước đây thì quyền lực nhà nước được coi là tập trung thống nhất trong tay cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra thông qua tuyển cử phổ thông đầu phiếu. Quyền lực của cơ quan này là tối cao vì trực tiếp nhận được từ nhân dân.
Song nó chỉ thực hiện quyền lực lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao mọi hoạt động của nhà nước. Nó lại tổ chức ra các cơ quan trung ương khác như nguyên thủ quốc gia, chính phủ, tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao để các cơ quan ấy thực hiện quyền lực nhà nước trong những lĩnh vực còn lại. Vì vậy, các cơ quan nhà nước khác ở trung ương đều phải chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân hay cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước và chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan này. Tóm lại, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong thực tế rất đa dạng và phong phú.
Song tựu trung lại có thể khái quát thành hai cơ chế cơ bản, đó là tập quyền và phân quyền. Tập quyền có nghĩa là quyền lực cao nhất của nhà nước thuộc về một cá nhân hoặc một cơ quan và cá nhân hoặc cơ quan ấy có thể chi phối sự hình thành và hoạt động của các chức vụ nhà nước hoặc các cơ quan nhà 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước khác. Còn phân quyền có nghĩa là quyền lực nhà nước được phân tách thành các loại lập pháp, hành pháp, tư pháp và được phân chia cho các cơ quan nhà nước khác nhau, cơ quan này thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan kia thực hiện quyền lực hành pháp và quyền lực tư pháp thì được trao cho cơ quan thứ ba. Các cơ quan ấy có thể chung hoặc không chung nhân viên với nhau, ngang bằng nhau và khá độc lập với nhau hoặc phụ thuộc nhau ở một mức độ nhất định, có thể chịu trách nhiệm trước nhau, trong hoạt động có thể kiềm chế, kiểm soát thậm chí đối trọng với nhau song lại phối hợp với nhau để tạo nên sự thống nhất của quyền lực nhà nước.
Xem xét lịch sử của nhà nước ta thấy, từ khi nhà nước ra đời đến nay, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước có sự biến đổi rất lớn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến điều đó là do sự trăn trở trong tư duy của loài người nhằm tìm kiếm một mô hình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thích hợp để có thể phát huy những tác động tích cực và giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của nhà nước đối với xã hội. Sở dĩ loài người luôn phải trăn trở, tìm kiếm mô hình đó vì thuở mới ra đời, nhà nước có công rất lớn trong việc cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa của sự tàn sát lẫn nhau, khái nguy cơ của sự tuyệt chủng. Nhưng trong quá trình tồn tại của mình, nhà nước đã có thời kỳ bị tha hóa nghiêm trọng, làm cho nó từ một tổ chức xuất hiện do nhu cầu khách quan của sự tổ chức và quản lý xã hội có giai cấp nhằm duy trì sự tồn tại của một cộng đồng thành công cụ đắc lực và hữu hiệu để phục vụ lợi ích và quyền thống trị của một cá nhân hoặc một nhóm người trong xã hội, thành công cụ đàn áp, nô dịch đại đa số nhân dân lao động, gây ra cho họ và cho toàn nhân loại biết bao khổ đau và bất hạnh, dẫn đến những bi kịch của lịch sử.
Tuy vậy, nhà nước vẫn cần thiết và ngày càng cần thiết đối với xã hội cho đến khi nó bị tiêu vong theo quan điểm của Mác.