phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG PHAN BỘI CHÂU VỀ ĐẢNG CHÍNH TRỊ VÀ MÔ HÌNH NHÀ NƢỚC 1. Bối cảnh lịch sử thế giới và Việt Nam tác động đến sự hình thành tƣ tƣởng Phan Bội Châu về đảng chính trị và mô hình nhà nƣớc 1. Bối cảnh lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn có những biến đổi to lớn trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Ở phương Tây, với sự áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện, tạo bước chuyển từ giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền. Tư bản độc quyền ra đời đồng nghĩa với việc chủ nghĩa tư bản luôn tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm và nơi cung cấp nguyên vật liệu. Chủ nghĩa thực dân phương Tây luôn chạy đua, cạnh tranh với nhau gay gắt nhằm xâm lược và đặt ách thống trị ở các quốc gia kém phát triển nhằm giải quyết vấn đề này. Cùng với quá trình xâm lược của thực dân phương Tây là phong trào đấu tranh của nhân dân các nước bị áp bức nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền.
Các quốc gia phong kiến cũng đã có những bước chuyển mình quan trọng để phát triển kỹ nghệ, cải cách chính trị nhằm thích hợp với sự chuyển biến của tình hình. Ở mỗi nước có cách làm khác nhau và sự thành công hay thất bại không giống nhau, song những thay đổi, cải cách này đã tác động không nhỏ đến việc hình thành và du nhập các tư tưởng chính trị hiện đại. Chính Việt Nam là một trong số các nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các tư tưởng dân chủ tư sản trong giai đoạn này. Trước sự xâm lược tàn bạo của các thế lực thực dân phương Tây, giai cấp phong kiến và đông đảo quần chúng nhân dân ở các nước bị áp bức đã đứng lên bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc.
Phong trào đấu tranh của các 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tầng lớp giai cấp mới và cũ trong xã hội bùng nổ mạnh mẽ. Đây chính là điểm giao thời giữa cái “cũ” và cái “mới”, giữa cái tiến bộ của phương Tây và cái lạc hậu của phương Đông. Xã hội có những chuyển biến quan trọng về kinh tế- chính trị, văn hóa - xã hội, là những tiền đề quan trọng cho sự xuất hiện của các tư tưởng chính trị dân chủ tư sản. Thời kỳ trước đó, từ cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã được định hình và phát triển một cách hết sức mạnh mẽ ở châu Âu, song ở châu Á vẫn còn chưa thực sự rõ nét, nền kinh tế tiểu nông, tự cấp tự túc vẫn chi phối chủ yếu đến đời sống kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, cùng với đó thì thương mại bị hạn chế do chính sách bế quan, tỏa cảng.
Vì thế, khi kinh tế tư bản bên ngoài xâm nhập vào đã xáo trộn và làm thay đổi cơ cấu kinh tế và xã hội bên trong các quốc gia phong kiến phương Đông, như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ. Từ nông nghiệp, công nghiệp cho đến thương mại đều đã có những bước phát triển mạnh, phá vỡ kết cấu kinh tế truyền thống của nhiều quốc gia châu Á. Sự hình thành và phát triển của nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa là tiền đề vật chất cho những tư tưởng mới, tiến bộ ra đời, đó là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản dân tộc. Nhật Bản là một trong những quốc gia châu Á đầu tiên phát triển kinh tế mạnh mẽ do tiếp cận và ứng dụng nhanh công nghệ phương Tây vào sản xuất.
Từ năm 1868, với chính sách “duy tân” mang tính đột phá và thực sự có hiệu quả của Thiên hoàng Minh Trị, Nhật Bản đã có được “bước nhảy thần kỳ” về kinh tế - xã hội. Câu chuyện bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX, sau hơn 200 năm thống trị của chế độ Mạc phủ Tokugawa, Nhật Bản lâm vào tình trạng khủng hoảng về mọi mặt. Trước tình hình đó, thực dân phương Tây đã gây áp lực buộc Nhật phải mở cửa tự do buôn bán, xóa bỏ chính sách bế quan, tỏa cảng. Trước tình hình khủng hoảng cùng với những đe dọa từ các nước phương Tây đòi hỏi Nhật Bản phải tiến hành cải cách đất nước với cơ hội trở 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành một cường quốc như các nước phương Tây.
Phong trào đấu tranh chống Mạc phủ Tokugawa bùng nổ khắp nơi trong thập niên 60 của thế kỷ XIX. Tháng 12 năm 1867 chế độ Mạc phủ Tokugawa chấm dứt, ngày 3 tháng 1 năm 1868, chính quyền mới do Thiên hoàng Minh Trị bổ nhiệm được thành lập. Giai cấp tư sản chưa được tham gia chính quyền, nhưng chế độ mới tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển, nên họ ủng hộ chính quyền mới. Thời kì Minh Trị (nghĩa là “sự cai trị sáng suốt”) bắt đầu.
Đổi mới và thúc đẩy nền kinh tế phát triển, Thiên Hoàng đã cử các chuyên gia sang phương Tây học hỏi về kỹ thuật, thành lập các trường đại học đào tạo tầng lớp lãnh đạo chính quyền và kinh doanh. Cơ sở hạ tầng bắt đầu được quan tâm đầu tư xây dựng. Nhiều chuyên gia phương Tây được mời tới Nhật Bản để phổ biến kiến thức và kỹ thuật. Nhật Bản còn ban bố quyền tự do buôn bán và đi lại, thiết lập chế độ tiền tệ thống nhất (đồng yên), đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển chủ nghĩa tư bản đến tận các vùng nông thôn.
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ các công trường sản xuất thủ công ở Nhật Bản, với các ngành kinh tế chủ yếu như: dệt, sản xuất giấy, máy móc, cơ khí… Sự phát triển về kinh tế của Nhật Bản là một trong những hình mẫu có nhiều ảnh hưởng đến các tầng lớp yêu nước ở nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Để xóa quyền lực của các đại danh, triều đình đã bãi bỏ hệ thống lãnh địa và danh hiệu của các đại danh; thực hiện “tứ dân bình đẳng”, nghĩa là bốn tầng lớp gồm võ sĩ, nông dân, thợ thủ công và thương nhân giờ đây không còn bị phân biệt. Năm 1889, Hiến pháp mới được ban hành, quy định Nhật Bản là một quốc gia quân chủ lập hiến có Hội đồng Quốc gia (Nghị viện Hoàng gia), hệ thống hành chính địa phương mới, cho phép nhân dân bầu cử; các đảng phái như Ái quốc xã, Tự do Đảng, Lập hiến Cải cách Đảng, Lập hiến Đế chính Đảng được phép chấp chính. Những cải cách này đã đưa Nhật Bản thoát khỏi 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vòng nô lệ như một số ít nước châu Á và vươn tới tầm cường quốc thế giới với chiến thắng Trung Quốc trong Chiến tranh Trung - Nhật (1894-1895); chiến thắng Nga tại Mãn Châu Lý trong Chiến tranh Nga - Nhật năm (1904-1905); tham dự phe Đồng minh trong chiến tranh thế giới thứ nhất, chiếm giữ các vùng lãnh thổ do người Đức nắm giữ tại Trung Quốc và Thái Bình Dương.
Nhờ có duy tân, đổi mới, Nhật Bản đã trở thành nước độc lập, không những thế mà còn sớm cường thịnh, vươn lên một cách mạnh mẽ và còn có chính sách bành trướng thực dân. Những thành công trong cải cách Nhật Bản là sự khích lệ, là tấm gương mà nhiều nhà yêu nước các dân tộc châu Á muốn học hỏi. Phan Bội Châu và các đồng chí của ông rất muốn học tập Nhật Bản. Thời kỳ này ở Trung Quốc, triều đình Mãn Thanh đang ở giai đoạn khủng hoảng, kinh tế, chính trị, xã hội đi vào suy thoái.
Sự mâu thuẫn giữa chế độ phong kiến đang suy vong và chủ nghĩa tư bản đang hình thành biến Trung Quốc thành một nướcphong kiến nửa thuộc địa và rơi vào tình trạng bị các nước thực dân thi nhau xâu xé. Dưới chính sách khai thác thuộc địa của các nước đế quốc, nền kinh tế Trung Quốc có bước chuyển rõ rệt, bắt đầu xuất hiện một số ngành công nghiệp. Đã có nhiều xưởng sửa chữa, đóng tàu ở Thượng Hải, Hương Cảng được thành lập. Các ngành công nghiệp nhẹ như chế biến chè, tơ, da, dầu, dệt.
và công nghiệp dịch vụ như điện nước, sản xuất diêm, giấy, thuỷ tinh, xà phòng. đã xuất hiện ở Thượng Hải. Cho đến đầu thế kỷ XX nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ. Từ năm 1900 đến năm 1908, số công trường thủ công tăng lên gấp đôi, giai cấp tư sản Trung Quốc đã không ngừng mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực khác như công nghiệp dân dụng, công nghiệp nặng.
Về chính trị, trước sự mục ruỗng của triều đình Mãn Thanh với hệ tư tưởng lạc hậu cùng với các chính sách bảo thủ của nó càng làm cho tình hình Trung Quốc rơi vào thảm cảnh. Trước thực trạng trên, cuối thế kỷ XIX, nhiều 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhà tư tưởng tiến bộ đã đề xuất chủ trương duy tân. Người đầu tiên là Hồng Tú Toàn với phong trào Thái bình Thiên quốc nhằm lật đổ triều đại Mãn Thanh, thực hiện bình đẳng xã hội, bình đẳng nam nữ, xóa bỏ sở hữu ruộng đất phong kiến và chia ruộng cho dân cày, hướng tới một xã hội không còn người bóc lột người. Sau đó là cuộc chính biến một trăm ngày của Khang Hữu Vi với tư tưởng “biến pháp”… Các cuộc đấu tranh đó đã thức tỉnh phong trào yêu nước của nhân dân, nâng cao ý thức độc lập dân tộc chống ngoại xâm và ý thức dân chủ chống chuyên chế.
Đó là những tiền đề để đến đầu thế kỷ XX, lịch sử Trung Quốc có một sự chuyển biến quan trọng, chính là cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 do Tôn Trung Sơn lãnh đạo. Nó tiến bộ ngay từ chủ trương của Hội “đánh đổ Mãn thanh, khôi phục Trung Hoa, lập chính phủ liên hiệp” đã thực sự đập tan triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Quốc, dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản.