chương 1 cuốn sách Hiến pháp năm 1946 – Bản Hiến pháp đặt nền móng cho nền lập hiến Nhà nước Việt Nam của Đỗ Ngọc Hải [39], tác giả trình bày khái quát tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh thể hiện qua các tác phẩm Bản yêu sách của dân An Nam, Nhời hô hoán cùng Vạn Quốc hội, Chánh cương vắn tắt, Chương trình cách mạng của Mặt trận Việt Minh, Chương trình Mười điểm, Tuyên ngôn độc lập. Từ đó, tác giả rút ra một số nhận xét: khái niệm hiến pháp có rất sớm ở Hồ Chí Minh từ năm 1919, ngay cả khi Người chưa tìm thấy con đường đi cho dân tộc, nhưng đã nhận thấy vai trò, tác dụng của hiến pháp trong quản lý xây dựng đất nước; phải tự lập ra hiến pháp mới đáp ứng được yêu cầu nhân dân và phù hợp với điều kiện lịch sử đất nước mình; nội dung hiến pháp phải thể hiện học thuyết Mác- Lênin, thể hiện hiến pháp cộng hòa dân chủ. Tiếp đó, tác giả phân tích tư tưởng lập hiến của Hiến pháp 1946 là sự thể hiện cụ thể của tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh: hiến pháp vì dân, ban hành hiến pháp là để mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, mọi người dân được hưởng lợi; hiến pháp phải ghi lấy thành tích vẻ vang của cách mạng được thể hiện trong Lời nói đầu; hiến pháp là yếu tố trước tiên của một nhà nước dân chủ, nhà nước pháp quyền và là khuôn mẫu cho tổ chức, hoạt động của nhà nước dân chủ. Hồ Chí Minh lựa chọn sáng suốt những đại biểu soạn thảo Dự thảo Hiến pháp và “vai trò chọn người trong Ủy ban dự thảo Hiến pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là yếu tố cơ bản dẫn tới thành công của Ủy ban dự thảo” [39, tr.
Trong bài viết Hồ Chủ tịch với những tư tưởng lập hiến trong Hiến pháp năm 1946, Đỗ Ngọc Hải đã phân tích rõ hơn và khẳng định trong bốn nội dung tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, thì “tư tưởng lập hiến vì dân là trọng tâm, cơ bản. Vì tất cả những tư tưởng sau chỉ để phục vụ cho tư tưởng thứ nhất. Nó phù hợp với quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tất cả mọi khoa học phải vì con người, phục vụ con người” [40, tr. 8 Trong cuốn Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 do Võ Khánh Vinh chủ biên [155], có đề cập đến một số quan điểm về lập hiến Hồ Chí Minh: sự cần thiết của hiến pháp; điều kiện ra đời của bản hiến pháp là độc lập dân tộc và chế độ dân chủ; mối quan hệ độc lập dân tộc và dân quyền, trong đó độc lập là nền tảng thực hiện dân quyền, muốn có dân quyền thì trước hết dân tộc phải độc lập, bởi vậy trước hết phải tập trung cho việc giành độc lập, dân quyền được thực hiện từng bước để phục vụ cho việc giành độc lập; quan điểm về chính thể nhân dân và “thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”.
Tác giả nhận định Hồ Chí Minh là người khởi xướng tư tưởng lập hiến dân chủ nhân dân ở Việt Nam. Đó là tư tưởng lập hiến duy nhất đúng cho xã hội Việt Nam, được khảo chứng và phát huy trong thực tiễn. Tác giả nêu lên một số nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946, là sự kết tinh và hiện thực hóa tư tưởng lập hiến kiểu mới Hồ Chí Minh: ba nguyên tắc trong Lời nói đầu; tổ chức chính quyền dân chủ với sự phân công nhiệm vụ cho từng cơ quan và thiết kế nhiều cơ chế kiểm tra, giam sát lẫn nhau giữa các cơ quan quyền lực nhà nước; tư tưởng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; ghi nhận quyền cơ bản của con người mà trước đó người dân Việt Nam chưa được thụ hưởng. Trong Lịch sử lập hiến cách mạng Việt Nam của Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa [116], các tác giả nêu lên những nét đặc trưng của tư tưởng pháp quyền - lập hiến Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam: sự cần thiết của hiến pháp; về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia; về tự do, nhân quyền và dân quyền; về tổ chức và hoạt động của nhà nước; về biểu tượng quốc gia: quốc kỳ, quốc ca.
Bên cạnh đó, các tác giả chỉ ra một số quan điểm về lập hiến của Hồ Chí Minh là sự kế thừa và phát triển của tư tưởng lập hiến mácxít: Đảng Cộng sản giữ độc quyền lãnh đạo toàn xã hội; Nhà nước chuyên chính vô sản được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền chứ không phải phân quyền và nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân; các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng phải được chú ý củng cố và phát huy vai trò trong hệ thống 9 chính trị. Các tác giả dành một mục phân tích nội dung và tính chất lập hiến của Tuyên ngôn độc lập: đề cao quan hệ quốc tế bình đẳng, đề cao nguyên tắc quốc gia thống nhất, chủ quyền dân tộc và tự do dân chủ; xây dựng chế độ nhà nước cộng hòa, bảo đảm quyền độc lập dân tộc, tự do dân chủ cho công dân Việt Nam. Những tư tưởng trong Tuyên ngôn “cũng chính là sự tổng kết hùng hồn tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh và nhiều nhà cách mạng yêu nước Việt Nam khác, tích lũy trong suốt quá trình đấu tranh lập hiến liên tục suốt gần nửa thế kỷ trước ngày lịch sử 2-9-1945” [116, tr. Qua việc trình bày sự phát triển tư tưởng lập hiến trong nửa đầu thế kỉ XX ở Việt Nam, các tác giả khẳng định các luồng tư tưởng lập hiến “muôn màu, muôn vẻ”, không ngừng đấu tranh, cọ xát với nhau, trong đó, đi theo con đường đấu tranh lập hiến xã hội chủ nghĩa, đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì chỉ có Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhận thức về Hiến pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Võ Thị Thúy Hà [38] trình bày khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về hiến pháp. Hiến pháp phải đảm bảo các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, phải ghi nhận được những giá trị cơ bản nhất và quyền cao quý nhất của con người. Hiến pháp phải đề ra được các nguyên tắc thực hiện quyền lực nhà nước, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nguyên tắc hiệu lực của hiến pháp thể hiện rõ nét ở quy định về thủ tục lập hiến và sửa đổi hiến pháp, việc giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với cơ quan và cá nhân có thẩm quyền.
Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh về một bản hiến pháp dân chủ, của Trần Ngọc Đường [33], trình bày ba nội dung trong tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh. Thứ nhất, nước phải có độc lập, quốc gia có chủ quyền là điều kiện tiên quyết của hiến pháp và hiến pháp tuyên bố về mặt pháp lý một nhà nước độc lập, có chủ quyền, là phương tiện bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước. Thứ hai, hiến pháp phải là một bản hiến pháp dân chủ, dân chủ là điều kiện đủ cho sự ra đời của hiến pháp, dân chủ thể hiện ở trong nội dung và cách thức ban hành, đồng thời là phương tiện để nhân dân được hưởng quyền tự do dân chủ. Thứ ba, 10 “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” bằng sức mạnh “thần linh pháp quyền” của hiến pháp.
Đi sâu, tập trung phân tích những nội dung cụ thể của tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh về các vấn đề vai trò, vị trí của hiến pháp; chủ quyền nhân dân; mô hình chính thể; tổ chức quyền lực nhà nước; về quyền con người, có một số bài viết, cuốn sách đáng chú ý Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của hiến pháp của Tào Thị Quyên [106] phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của hiến pháp đối với việc khẳng định chủ quyền của quốc gia, quy định thể chế nhà nước và đảm bảo quyền công dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng hiến pháp của Hà Thị Thùy Dương [25] nêu lên một số vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng một bản hiến pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh: kế thừa những điểm tích cực trong các bản hiến pháp trước; phản ánh tình hình hiện tại và xu thế phát triển của đất nước trong tương lai; đảm bảo đầy đủ quyền con người, quyền công dân; đảm bảo bản hiến pháp phải thực sự của nhân dân; quá trình xây dựng hiến pháp phải là quá trình làm việc rất công phu cẩn thận, nghiêm túc. Vấn đề chủ quyền nhân dân được các nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Dung, Trần Ngọc Đường, Nguyễn Xuân Tế, Đào Trí Úc….khẳng định trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến và “bằng quyền lập hiến, nhân dân trao cho nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [18, 114], cũng như có sự phân biệt giữa hoạt động lập pháp và hoạt động lập hiến, tức là quyền lập các quyền với các quyền đã được lập ra. Việc sửa đổi hiến pháp cũng phải được quyết định bởi nhân dân.
Nhân dân thực hiện quyền lập hiến thông qua bầu Quốc hội lập hiến và thực hiện trưng cầu dân ý. Và chỉ khi nào thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến thì mới đảm bảo tính hiệu lực tối cao của hiến pháp. Trong mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, các tác giả khẳng định nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, xây dựng nhà nước của dân, do 11 dân, vì dân. Nhà nước chỉ là cơ quan đại diện được nhân dân trao quyền, cán bộ, công chức là “công bộc” của nhân dân.
Quyền làm chủ của nhân dân phải được thể hiện trực tiếp ở phương thức cơ bản thiết lập bộ máy nhà nước là bầu cử trực tiếp, theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Quan điểm này được Nguyễn Đình Lộc phân tích hệ thống trong cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân, [71] với những nội dung: không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ nhân dân; nêu cao tinh thần phụ trách trước dân, không được hao phí sức dân, phải làm mực thước cho dân; phải yêu dân, kính dân, không quan liêu, tham nhũng, chống quan liêu tham nhũng; dựa trên ý thức làm chủ Nhà nước của công dân; Nhà nước và nhân dân phải có quan hệ công bằng, “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.