phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của luận án gồm có 3 chương được chia thành 6 tiết và 17 tiểu tiết. 17 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 1. Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới và Việt Nam với sự hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về văn hóa Là một trong những hình thái ý thức xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa hình thành, phát triển, chịu sự quy định và tác động sâu sắc của tồn tại xã hội.
Đó là điều kiện lịch sử - xã hội trên thế giới và Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. - Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử - xã hội trên thế giới có những chuyển biến to lớn và phức tạp ở hầu hết các nước trên thế giới lúc bấy giờ, thể hiện ở những điểm chính như sau: Ở phương Tây, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, kỹ thuật trong các lĩnh vực Vật lý, Y học, Hóa học,. đã nâng cao trình độ nhận thức của con người lên một tầm cao mới. Cùng với sự phát minh và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào thực tiễn cuộc sống là sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp làm cho các nước trên thế giới đi đầu trong phát triển sản xuất như Anh, Pháp, Mỹ, Đức.
Đây là thời kỳ mà “giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của các thế hệ trước kia gộp lại” (C. Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của công nghiệp cho nên dẫn đến sự phát triển không đều giữa các nước tư bản chủ nghĩa dẫn đến sự tranh chấp về thị trường và thuộc địa, đồng thời cũng làm cho mâu thuẫn giữa các nước 18 tư bản chủ nghĩa trở nên gay gắt. Thêm vào đó, tình trạng mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, hiện tượng sản xuất vô chính phủ đã đẩy mâu thuẫn đi đến đỉnh điểm dẫn tới các cuộc khủng hoảng lớn về kinh tế: 1873 – 1879, 1882 – 1886, 1890 và 1900 – 1903. Trong đó, đặc biệt là cuộc khủng hoảng năm 1900 – 1903 có ảnh hưởng lớn đến việc xác lập quyền thống trị của các tổ chức lũng đoạn ở các nước tư bản chủ nghĩa và đồng thời dẫn đến có nhiều mâu thuẫn trong kinh tế giữa các nước, cho nên một số nước muốn chia lại thuộc địa để có thị trường riêng.
Những cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nước tư bản để giành giật thị trường, thuộc địa và phân chia lại thế giới lúc này là Mỹ – Tây Ban Nha (1898), Anh – Bôơ (1899 – 1902), Nga – Nhật (1904 – 1905) (Vũ Dương Ninh và Nguyễn Văn Hồng, 2006, tr. Đây cũng chính là một trong những nguyên do gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (tháng 8 năm 1914 đến tháng 11 năm 1918). Như vậy, những năm 60 - 70, tự do cạnh tranh phát triển đến cao độ, tuy nhiên sản xuất công nghiệp tăng nhanh dẫn đến tập trung sản xuất và tích tụ tư bản và dần dần tự do cạnh tranh được thay thế bằng những hình thức lũng đoạn dưới nhiều hình thức như Cácten, Xanhđica, Tơrớt. Phải nói rằng, sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm cho kinh tế phát triển và cuộc khủng hoảng kinh tế từ năm 1900 – 1903 được coi là cái mốc chung của bước chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở hầu hết các nước tư bản (Anh, Pháp, Đức) và ảnh hưởng đến các nước khác ở châu Âu như Ý, Áo – Hung và Mỹ.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội lúc này là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Khi chủ nghĩa tư bản phát triển thì cùng với đó giai cấp công nhân cũng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng ở các nước Anh, Đức, Pháp, Mỹ, Nga. Ngoài ra, chủ nghĩa tư bản phát triển lên một giai đoạn mới đã thể hiện sự bành trướng của mình bằng cách xâm lược thuộc địa. Do đó, đã hình thành mâu thuẫn mới giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với đế quốc, thực dân và làm thay đổi tình hình 19 kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của các nước này; các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp diễn ra, tuy nhiên chưa có phong trào nào thành công.
Vấn đề mở rộng thị trường bằng cách đi xâm chiếm nước khác không ngừng diễn ra như V.Lênin đã nhận định: Chủ nghĩa tư bản phát triển càng cao, nguyên liệu càng thiếu thốn, sự cạnh tranh càng gay gắt và việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu trên thế giới càng ráo riết thì cuộc đấu tranh để chiếm thuộc địa càng quyết liệt hơn (V. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, V.Lênin – Người kế tục sự nghiệp vĩ đại của C.Ăngghen trong điều kiện lịch sử mới và “đấu tranh một cách không điều hòa chống bọn cải lương và bọn xuyên tạc chủ nghĩa Mác đủ các loại, nâng chủ nghĩa xã hội khoa học lên một giai đoạn mới” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr. 408), đã thành lập Quốc tế III (tháng 3 năm 1919) với nhiệm vụ lịch sử là mở ra một giai đoạn thắng lợi mới cho phong trào công nhân quốc tế. Tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920), Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.Lênin được công bố.
Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Cũng chính từ bản Luận cương của V.Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam: Con đường cách mạng vô sản. Khi các nước phương Tây phát triển thành chủ nghĩa đế quốc thì hầu hết các nước phương Đông chưa thoát khỏi chế độ phong kiến và phần lớn các nước ở châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ Latinh dần dần trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chủ nghĩa đế quốc.
Do đó, các nước này cũng ở trong tình trạng lạc hậu, kém phát triển bởi vì chủ nghĩa đế quốc tước đoạt tự do, ra sức chiếm đoạt của cải đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những giá trị 20 văn hóa truyền thống, kinh tế và chính trị điển hình như ở Nhật Bản và Trung Quốc. Ở Nhật Bản, với chế độ phong kiến dưới thời Tokugawa thống trị đã rơi vào tình trạng bế tắc, không đáp ứng được tình hình của Nhật Bản lúc bấy giờ. Vào năm 1967, khi Thiên hoàng Minh trị lên ngôi đã tiến hành canh tân đất nước trên nhiều lĩnh vực, trong đó đã đẩy mạnh cải cách giáo dục. Do đó, sau cải cách Minh trị Thiên hoàng với những chính sách hợp lý, mang tính đột phá là “là học tập phương Tây về mọi mặt, về kinh tế kĩ thuật và tư tưởng văn hóa” (Vũ Dương Ninh và Nguyễn Văn Hồng, 2006, tr.
316) và sau cuộc Duy tân vào năm 1868, Nhật Bản đã đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vì thế, đã làm thay đổi diện mạo đất nước là từ một nước nông nghiệp lạc hậu đã trở thành một nước tư bản chủ nghĩa với nền công nghiệp phát triển vô cùng mạnh mẽ và hiện đại, đồng thời cũng nhanh chóng gia nhập vào các nước đế quốc, thể hiện sự bành trướng bằng việc đi xâm chiếm các nước khác. Chính vì lẽ đó, ở các nước thuộc địa ở châu Á, xu hướng thân Nhật bắt đầu nổi lên ở các nước Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ… trong đó có cả Việt Nam với hy vọng học hỏi Duy tân của Nhật để giải phóng dân tộc khỏi sự áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc. Còn ở Trung Quốc, từ cuối những năm 60 – 70 của thế kỷ XIX, bị nhiều đế quốc Anh, Mỹ, Nhật tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược ở các vùng biên giới phía Đông và Tây Nam Trung Quốc.
Chiến tranh Trung – Pháp (1884 – 1885), chiến tranh Trung – Nhật (1894 – 1895) và chính sách “mở cửa” của Mỹ chen vào để chia cắt Trung Quốc. Vì vậy, lãnh thổ bị chia xẻ thành nhiều mảnh, triều đình Mãn Thanh “thối nát” đã làm cho đất nước rơi vào tình cảnh lộn xộn, rối reng… Trong xã hội bắt đầu xuất hiện những trào lưu tư tưởng mới về cải cách, canh tân (Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu), gắn liền với các phong trào Duy tân (nổi bật là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, đã xóa bỏ triều đại phong kiến 21 cuối cùng của Trung Quốc, lập nên Trung Hoa dân quốc – đây là nhà nước tư sản đầu tiên ở nước này), tuy nhiên những tư tưởng canh tân này vẫn còn nhiều hạn chế và chưa phát huy hết tác dụng của nó trong thực tiễn xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Ngoài ra, thì một số nước cũng trở thành thuộc địa và phụ phuộc vào đế quốc như Triều Tiên là thuộc địa của Nhật, Inđônexia là thuộc địa của Hà Lan, Mã lai là thuộc địa của Anh, Campuchia, Lào là thuộc địa của Pháp, Ấn Độ là thuộc địa của Anh… Từ đó cho thấy rằng, dưới sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành các phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc. Các phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi theo những con đường và cách thức khác nhau đã diễn ra như: Phong trào giải phóng dân tộc mang ý thức hệ tư tưởng phong kiến (Triều Tiên, Miến Điện, Campuchia), phong trào theo khuynh hướng tư sản (Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc), phong trào giải phóng dân tộc mang ý thức hệ tư sản do giai cấp tư sản lãnh đạo (Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc), Gandi, Nêru ở Ấn Độ (Doãn Chính, 2018, tr.
Tuy nhiên, những phong trào theo những khuynh hướng trên đều thất bại.