Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 9.02) của nghiên cứu sinh Nguyễn Đặng Thùy Diễm, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lương Minh Cừ, mang tiêu đề: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang hiện nay".

Văn hóa giữ vị trí là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đối với dân tộc Việt Nam, hệ thống giá trị văn hóa được hình thành và bồi đắp xuyên suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong hệ thống di sản lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng về văn hóa giữ vị trí then chốt, kết tinh các giá trị truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây và nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đều xác định xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội.

Tỉnh Kiên Giang là địa bàn mang những dấu ấn đặc thù gắn liền với quá trình lịch sử khai mở vùng đất Nam Bộ và sự cộng cư, giao thoa văn hóa giữa các cộng đồng dân tộc (Kinh, Khmer, Hoa). Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, địa phương phải đối mặt với nhiều tác động tiêu cực như lối sống thực dụng, sự suy thoái đạo đức và hiện tượng coi thường các giá trị truyền thống. Xuất phát từ bối cảnh đó, luận án xác định tính cấp thiết của việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa vào thực tiễn địa phương nhằm bổ sung cơ sở lý luận và định hướng giải pháp cho sự phát triển văn hóa bền vững tại Kiên Giang.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở phân tích, làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, luận án tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian qua, từ đó đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng, phát triển văn hóa ở địa phương trong giai đoạn hiện nay.

Để hoàn thành mục đích trên, luận án xác định và giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày và phân tích điều kiện, tiền đề hình thành, nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.
  2. Trình bày và làm rõ những đặc điểm chủ yếu về điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội và tính chất cơ bản của văn hóa ở tỉnh Kiên Giang; phân tích thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang hiện nay.
  3. Đề xuất, phân tích những phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Kiên Giang.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang từ năm 1998 (khi Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc) đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia một cách hệ thống thành 3 nhóm công trình chính:

Nhóm công trình Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung trọng tâm đã công bố
Nhóm 1: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đỗ Huy (1997, 2000), Đinh Xuân Lâm & Bùi Đình Phong (1998), Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003), Thành Duy (1998, 2004, 2014), Hoàng Chí Bảo cùng nhiều tác giả (2009), Thanh Lê (2001), Bùi Đình Phong (2001), Trần Đình Huỳnh & Trịnh Quang Cảnh (2003), Lê Xuân Vũ (2004), Nguyễn Gia Nùng (2010), Bùi Kim Hồng et al. (2010), Đinh Thị Thúy Hải (2011), Nguyễn Khắc Nho (2013), Mạch Quang Thắng et al. (2013), Hồ Sĩ Vịnh (2014), Nguyễn Thanh Tú (2013), Nguyễn Hữu Đảng et al. (2014), Trần Văn Bính (2015), Song Thành (2015), Khắc Tuế (2016)... Làm rõ nguồn gốc, bản chất, các lĩnh vực văn hóa (chính trị, đạo đức, nghệ thuật, pháp luật), văn hóa ứng xử, phong cách Hồ Chí Minh và khẳng định tầm vóc của Người như một danh nhân văn hóa kiệt xuất.
Nhóm 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển văn hóa Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội (1998), Bùi Đình Phong (1998), Đặng Xuân Kỳ et al. (2005), Đỗ Thị Minh Thúy (2006), Thái Công Quận (2010), Đinh Xuân Lâm & Bùi Đình Phong (2007), Phạm Ngọc Anh & Bùi Đình Phong (2009), Bùi Thị Hiền (2009), Hoàng Anh et al. (2010), Nguyễn Trung Thu (2013), Trần Quốc Hoàn (2017); các bài báo tạp chí của Đỗ Đình Hãng & Vũ Trường Giang (2002), Doãn Chính (2002), Hồ Văn Chiểu (2003), Nguyễn Đình Bắc & Phạm Thị Hằng, Mạch Quang Thắng, Nguyễn Ngọc Quyến (2004), Hoàng Chí Bảo (2010), Phong Lê (2010), Phạm Xuân Nam (2010)... Đi sâu vào phương thức xây dựng nền văn hóa mới (tính dân tộc, tính khoa học, tính đại chúng), mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, chính trị và con người; phân tích việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số hoặc các giai tầng xã hội cụ thể.
Nhóm 3: Nghiên cứu văn hóa, lịch sử và xã hội tỉnh Kiên Giang Đoàn Nô (2003), Đông Hồ & Mộng Tuyết (2006), Sở VHTTDL Kiên Giang (2011), Võ Thanh Xuân (2014), Nguyễn Bình Phương Thảo & Nguyễn Thanh Lợi (2016), Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Kiên Giang (1985), Sơn Nam & Lê Đình Kỵ (1987), Trịnh Hoàng Cầu (1987), Nguyễn Đình Đầu (1994), Nguyễn Văn Khoa (2001), Hà Văn Thùy (2002), BCH Hội Nông dân Kiên Giang (2004), Diệp Hoàng Du (2005), Danh Sol (2014), Danh Pho (2014), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kiên Giang (2015, 2019), Sở Du lịch Kiên Giang (2017)... Khảo sát lịch sử hình thành vùng đất từ thời Mạc Cửu, truyền thống đấu tranh cách mạng, anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán đồng bào Khmer và mô hình làng xã văn hóa.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra bao gồm:

  • Các công trình thuộc Nhóm 1 và Nhóm 2 tập trung chủ yếu vào các khía cạnh chung hoặc nghiên cứu sự vận dụng ở tầm vĩ mô toàn quốc, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên biệt mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa tại địa bàn tỉnh Kiên Giang.
  • Các công trình thuộc Nhóm 3 phản ánh từng sự kiện, giai đoạn lịch sử hoặc từng khía cạnh văn hóa đơn lẻ (lễ hội, danh thắng, tín ngưỡng dân gian, phương ngữ), chưa có công trình nào đánh giá toàn diện thực trạng phát triển văn hóa Kiên Giang giai đoạn từ năm 1998 đến nay dưới góc độ triết học và tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, đồng thời đề xuất giải pháp đồng bộ cho địa phương.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và sự vận dụng vào thực tiễn tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên:

  • Thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin.
  • Hệ thống quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa: bao gồm định nghĩa về văn hóa, quan điểm về vị trí, vai trò, chức năng của văn hóa trong đời sống xã hội và các nguyên tắc xây dựng nền văn hóa mới mang tính dân tộc, khoa học, đại chúng.
  • Đường lối, quan điểm, nghị quyết và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về văn hóa, tiêu biểu là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998), Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (2014) và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các văn bản lý luận, báo cáo tổng kết và tập hợp các chiều cạnh thực tiễn văn hóa.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Rút ra các kết luận lý luận từ các trường hợp thực tiễn và vận dụng nguyên lý chung vào đặc thù của tỉnh Kiên Giang.
  • Phương pháp lịch sử và lôgíc: Tái hiện tiến trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa gắn liền với bối cảnh lịch sử, đồng thời theo dõi tiến trình chuyển biến văn hóa Kiên Giang qua các giai đoạn.
  • Phương pháp phân tích tư liệu: Khảo cứu hệ thống tài liệu thành văn, số liệu thống kê hành chính, văn bản chỉ đạo.
  • Phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa: Rút ra các kết luận khoa học, bản chất của thực trạng và mô hình giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:

  • Tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (Nxb. Chính trị quốc gia, 2011).
  • Hệ thống văn kiện Đại hội Đảng và các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, chương trình hành động và báo cáo định kỳ của Tỉnh ủy Kiên Giang, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kiên Giang.
  • Các công trình chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, luận án, luận văn và bài báo khoa học đã xuất bản có liên quan đến đề tài.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu gồm phần mở đầu, 3 chương nội dung chính (chia thành 6 tiết và 17 tiểu tiết), phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.

Chương 1: Khái quát điều kiện, tiền đề hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Chương 1 tập trung phân tích nguồn gốc hình thành và các nội dung cốt lõi trong quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa, gồm hai nội dung lớn:

1. Khái quát điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa:

  • Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:
    • Bối cảnh thế giới: Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa làm gia tăng các mâu thuẫn xã hội và tranh giành thuộc địa thông qua các cuộc chiến tranh như Mỹ – Tây Ban Nha (1898), Anh – Bôơ (1899–1902), Nga – Nhật (1904–1905), dẫn tới Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914–1918). Cuộc khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa giai đoạn 1900–1903 xác lập vai trò của các tổ chức độc quyền lũng đoạn. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) lật đổ trật tự tư sản, mở ra thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự thành lập Quốc tế Cộng sản (tháng 3 năm 1919) và việc công bố Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin tại Đại hội II (1920) đã định hướng cho Hồ Chí Minh con đường cách mạng vô sản. Ở phương Đông, phong trào canh tân Minh Trị ở Nhật Bản (1868) và phong trào Duy Tân, Cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc nổ ra nhưng không giải quyết triệt để giải phóng dân tộc thuộc địa.
    • Bối cảnh Việt Nam: Sau khi Pháp nổ súng xâm lược năm 1858 tại Sơn Trà (Đà Nẵng), triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt (1884), biến Việt Nam thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Chính sách kinh tế thực dân duy trì phương thức bóc lột phong kiến kết hợp khai thác tư bản, tước đoạt ruộng đất của nông dân (năm 1890 cướp đoạt 10.000 ha, đến năm 1913 tăng lên 470.000 ha; Công ty than Hồng Gai năm 1913 thu lãi 2,5 triệu phrăng) và áp đặt chế độ thuế khóa (thuế đinh, thuế điền, thuế muối, rượu, thuốc phiện). Chính sách văn hóa nô dịch truyền bá lối sống ngoại lai, kiểm duyệt báo chí, mở nhà tù nhiều hơn trường học. Về chính trị - xã hội, thực dân chia đất nước thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Các phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến (Cần Vương với các cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, Hùng Lĩnh, Hương Khê; khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo 1883–1913) và các phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản (Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng) đều lần lượt thất bại, đòi hỏi phải có một hệ thống lý luận cách mạng mới.
  • Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng:
    • Giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: Nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập tự cường, tinh thần đại đoàn kết cộng đồng và đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất và chiến đấu chống giặc ngoại xâm.
    • Tinh hoa văn hóa phương Đông: Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc các hạt nhân hợp lý của Nho giáo (triết lý hành động, nhập thế, tinh thần tu thân dưỡng tính, hiếu học; chuyển hóa các chuẩn mực đạo đức "nhân, lễ, nghĩa, trí, tín" thành "nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm"); Phật giáo (tinh thần từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, nếp sống trong sạch, vị tha); Đạo giáo (tư tưởng sống hòa hợp với tự nhiên, phản đối chiến tranh phi nghĩa, coi nhẹ danh lợi); và chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn ("dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc").
    • Tinh hoa văn hóa phương Tây: Tiếp thu tư tưởng "Tự do – Bình đẳng – Bác ái", các giá trị dân chủ tiến bộ từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789), Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ (1776), tư tưởng triết học ánh sáng Pháp (Vôn-te, Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ) và giá trị nhân văn, lòng nhân ái của Thiên chúa giáo.
    • Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa: Nền tảng quyết định hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp thu quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về lao động là nguồn gốc của văn hóa, văn hóa là sản phẩm của phương thức sản xuất và thuộc kiến trúc thượng tầng; luận điểm của V.I. Lênin về cách mạng văn hóa vô sản, tính kế thừa các giá trị văn hóa của nhân loại.
  • Các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.

2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa:

  • Quan điểm về khái niệm văn hóa: Xác định văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và mục đích của cuộc sống.
  • Quan điểm về vị trí, vai trò và chức năng của văn hóa: Khẳng định văn hóa ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội; "văn hóa soi đường cho quốc dân đi"; văn hóa là một mặt trận và cán bộ văn hóa là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Chức năng của văn hóa là bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn, nâng cao dân trí, phát triển nhân cách, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
  • Quan điểm về xây dựng và phát triển văn hóa: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam toàn diện với 3 tính chất cốt lõi: Tính dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng; kết hợp hài hòa việc giữ gìn bản sắc truyền thống với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Chương 2: Thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

Chương 2 luận giải thực trạng công tác văn hóa tại tỉnh Kiên Giang qua hai nội dung chính:

1. Điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội và tính chất cơ bản của văn hóa ở tỉnh Kiên Giang:

  • Điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội: Vị trí địa lý thuộc vùng Tây Nam Bộ, sở hữu cả vùng đồng bằng phì nhiêu, hệ thống rừng ngập mặn và vùng biển đảo chiến lược (nổi bật là Phú Quốc, quần đảo Nam Du, Kiên Hải). Lịch sử hình thành gắn liền với công cuộc khai phá vùng đất Hà Tiên từ thời Tổng binh Mạc Cửu và dòng chảy lịch sử chống giặc ngoại xâm kiên cường. Đời sống kinh tế - xã hội mang tính chất nông – lâm – ngư nghiệp kết hợp với dịch vụ du lịch biển đảo.
  • Tính chất cơ bản của văn hóa tỉnh Kiên Giang: Văn hóa Kiên Giang mang tính chất đa dạng, phong phú do sự giao lưu, tiếp biến và đan xen giữa ba cộng đồng dân tộc chính: Kinh, Khmer, Hoa. Tính chất văn hóa thể hiện qua hệ thống di sản văn hóa vật thể (danh lam thắng cảnh Hà Tiên thập cảnh, di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc, cụm di tích Đình Nguyễn Trung Trực) và di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội Nguyễn Trung Trực, các lễ hội Chôl Chnăm Thmây, Ok Om Bok, Sen Dolta của đồng bào Khmer, các hình thức nghệ thuật sân khấu Dù Kê, Dì Kê).

2. Thành tựu, hạn chế trong xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang hiện nay:

  • Thành tựu đạt được:
    • Tỉnh ủy và các cấp chính quyền đã quán triệt và triển khai các chủ trương của Đảng, từng bước đưa phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đi vào chiều sâu; xây dựng nhiều mô hình gia đình văn hóa, ấp - khu phố văn hóa, cơ quan văn hóa.
    • Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng được quy hoạch, bảo tồn và tôn tạo; các lễ hội truyền thống được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia.
    • Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được quan tâm chăm lo; các thiết chế văn hóa cơ sở được quan tâm đầu tư xây dựng.
  • Một số hạn chế và nguyên nhân:
    • Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa ở một số cấp ủy, chính quyền và bộ phận cán bộ còn chưa đầy đủ; còn biểu hiện coi trọng phát triển kinh tế thuần túy hơn phát triển văn hóa.
    • Hệ thống thiết chế văn hóa (trung tâm văn hóa, nhà văn hóa xã/ấp, thư viện, khu vui chơi thể thao) ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo còn thiếu đồng bộ, xuống cấp hoặc hoạt động kém hiệu quả.
    • Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở còn thiếu về số lượng, bất cập về chuyên môn nghiệp vụ và tính chuyên nghiệp chưa cao.
    • Các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội, sự suy thoái về đạo đức, lối sống thực dụng và sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, lai căng chưa được ngăn chặn triệt để trong bối cảnh phát triển du lịch và kinh tế thị trường.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng, phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Chương 3 xác định mục tiêu và lộ trình giải pháp mang tính khả thi cho địa phương:

1. Phương hướng cơ bản:

  • Xây dựng và phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở tỉnh Kiên Giang.
  • Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa bảo tồn các giá trị truyền thống với xây dựng các giá trị hiện đại, giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa trong mọi quy hoạch phát triển của tỉnh.
  • Xây dựng và phát triển văn hóa trên cơ sở phát huy tối đa các đặc điểm, tiềm năng và thế mạnh đặc thù của vùng đất, con người Kiên Giang.

2. Một số giải pháp chủ yếu:

  • Giải pháp về nhận thức, chỉ đạo, lãnh đạo: Nâng cao nhận thức của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng của văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp văn hóa.
  • Giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách: Rà soát, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách văn hóa địa phương; tăng cường huy động các nguồn lực xã hội hóa đầu tư cho văn hóa gắn liền với quản lý minh bạch; ban hành chính sách ưu đãi văn hóa cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng hải đảo.
  • Giải pháp về nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân: Đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa bình đẳng của nhân dân; kết hợp hài hòa giữa phát triển du lịch sinh thái, du lịch tâm linh với việc bảo tồn di sản văn hóa, giữ gìn môi trường văn hóa lành mạnh.
  • Giải pháp về phát triển thiết chế văn hóa và xây dựng đội ngũ cán bộ: Quy hoạch, hiện đại hóa mạngClN lưới thiết chế văn hóa các cấp (tỉnh, huyện, xã, ấp); đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức cho đội ngũ cán bộ văn hóa ngang tầm nhiệm vụ.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn của luận án gồm:

  1. Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa một cách toàn diện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản chất, khái niệm, vai trò, chức năng và các nguyên tắc xây dựng nền văn hóa mới; phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh với việc giải quyết các bài toán phát triển văn hóa tại một địa phương cụ thể.
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Phân tích và chỉ rõ bức tranh thực trạng công tác xây dựng và phát triển văn hóa tại tỉnh Kiên Giang từ năm 1998 đến năm 2020, làm rõ cả thành tựu lẫn những điểm nghẽn, hạn chế về nhận thức, cơ chế chính sách, thiết chế và nhân lực.
    • Đề xuất hệ thống 3 phương hướng cơ bản và 4 nhóm giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm giúp Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát triển văn hóa địa phương trong thời gian tới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong khung thời gian từ năm 1998 (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII) đến năm 2020, chủ yếu tiếp cận dưới góc độ triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận án không đi sâu vào phân tích định lượng xã hội học chuyên biệt hoặc nghiên cứu chi tiết từng di sản đơn lẻ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh liên vùng về công tác xây dựng văn hóa giữa tỉnh Kiên Giang với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long.
    • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về văn hóa biển đảo đặc thù (khu vực thành phố Phú Quốc và các hải đảo) hoặc các chính sách bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết, lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế thị trường hiện đại.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng sau:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và cứ liệu thực tiễn cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cùng các sở, ban, ngành (đặc biệt là Sở Văn hóa và Thể thao) trong việc xây dựng nghị quyết, chiến lược, đề án phát triển văn hóa - du lịch giai đoạn mới.
  • Cơ sở đào tạo và giảng viên: Phục vụ làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu các học phần Triết học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chính trị học, Xây dựng Đảng, Văn hóa học tại các trường đại học, cao đẳng, các trường chính trị tỉnh và hệ thống học viện chính trị trong cả nước.
  • Học viên, nghiên cứu sinh: Hữu ích cho việc tham khảo khung cấu trúc nghiên cứu thực tiễn địa phương và phương pháp luận vận dụng lý luận triết học mác-xít vào giải quyết vấn đề văn hóa cấp tỉnh. Các nội dung tại Chương 1 (hệ thống tiền đề tư tưởng văn hóa) và Chương 3 (hệ thống giải pháp thiết chế và nhân lực) là những phần có giá trị trích dẫn cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Những tiền đề lý luận nào giữ vai trò cốt lõi trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa? Theo luận án, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa được hình thành từ 4 tiền đề lý luận chính: (1) Giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam (chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, tính cần cù, sáng tạo); (2) Tinh hoa văn hóa phương Đông (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn); (3) Tinh hoa văn hóa phương Tây (tư tưởng Tự do – Bình đẳng – Bác ái, triết học ánh sáng Pháp, các bản Tuyên ngôn của Pháp và Mỹ, lòng nhân ái của Thiên chúa giáo); (4) Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa (giữ vai trò quyết định, cung cấp thế giới quan và phương pháp luận khoa học).

2. Tại sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu thực tiễn từ năm 1998? Mốc thời gian 1998 được lựa chọn vì đây là thời điểm Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 (Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII) về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Đây là nghị quyết mang tính bước ngoặt chỉ đạo toàn diện sự nghiệp phát triển văn hóa thời kỳ đổi mới, làm căn cứ định hướng cho Đảng bộ và chính quyền tỉnh Kiên Giang triển khai các chương trình hành động văn hóa.

3. Hồ Chí Minh đã tiếp thu và biến đổi các chuẩn mực đạo đức của Nho giáo như thế nào? Hồ Chí Minh đã gạt bỏ các yếu tố tiêu cực của Nho giáo (phân biệt quân tử - tiểu nhân, coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay), kế thừa các hạt nhân tích cực về tu thân dưỡng tính, hiếu học và cải biến chuẩn mực đạo đức "nhân, lễ, nghĩa, trí, tín" thành chuẩn mực đạo đức cách mạng mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam là: "nhân", "nghĩa", "trí", "dũng", "liêm" (được thể hiện rõ trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc năm 1947).

4. Những số liệu lịch sử cụ thể nào về chính sách bóc lột của thực dân Pháp được luận án dẫn chứng? Luận án dẫn chứng các số liệu: Trong nông nghiệp, diện tích ruộng đất bị thực dân Pháp cướp đoạt năm 1890 là 10.000 ha, đến năm 1913 tăng lên 470.000 ha; trong công nghiệp khai khoáng, năm 1913 riêng Công ty than Hồng Gai đã thu lợi nhuận lên đến 2,5 triệu phrăng.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nào nhằm phát triển văn hóa tỉnh Kiên Giang? Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu gồm: (1) Nâng cao nhận thức, đổi mới sự chỉ đạo, lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền; (2) Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách văn hóa địa phương; (3) Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân gắn với bảo tồn di sản và môi trường văn hóa; (4) Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa và chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa.

Kết luận

Luận án "Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang hiện nay" của tác giả Nguyễn Đặng Thùy Diễm là công trình nghiên cứu hệ thống thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Công trình đã luận giải sâu sắc các điều kiện lịch sử - xã hội, tiền đề lý luận và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đồng thời đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng văn hóa tỉnh Kiên Giang giai đoạn 1998–2020. Trên cơ sở đó, luận án xác lập hệ thống phương hướng và giải pháp đồng bộ, góp phần cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho việc hoạch định chính sách phát triển văn hóa bền vững tại địa phương.