mở đầu bằng cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917. Thời đại chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, gắn liền với hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa đế quốc tạo dựng nên. Nhắc nhở những người cộng sản cần bám sát yếu tố thời đại để định ra đường lối cách mạng cho phù hợp, Lênin khẳng định: “chúng ta đang sống ở khoảng giao thời giữa hai thời đại và chỉ có thể hiểu được những biến cố lịch sử có ý nghĩa lớn lao đang diễn ra trước mắt chúng ta nếu trước hết chúng ta phân tích những điều kiện khách quan của bước chuyển từ thời đại này sang thời đại kia”1. Quán triệt tinh thần đó, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: "Thời đại của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn cũng là thời đại một nhóm nước lớn do bọn tư bản tài chính cầm đầu thống trị các nước phụ thuộc và nửa phụ thuộc, bởi vậy công cuộc giải phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản" 2.
Thực tiễn thời đại đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc tin tưởng thời kỳ tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, dân tộc sẽ được thay bằng sự mở rộng quan hệ giữa các nước, vận mệnh của 1 V.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ Mátxcơ va, 1980, tr. 2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 130 mỗi dân tộc gắn liền với vận mệnh chung của cả loài người. Do đó, sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam là một bộ phận khăng khít của sự nghiệp cách mạng vô sản thế giới.
Trước khi Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước, ở Việt Nam đã có nhiều nhà yêu nước nhiệt thành dám đứng lên tập hợp nhân dân phất cao ngọn cờ đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược. Nhưng các phong trào đó đều mang nặng tính tự phát, cô lập, không gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, không nắm bắt được xu thế chung của thời đại, kết cục đều đi đến thất bại. Nguyễn Ái Quốc không đi theo, không lặp lại những thất bại của các bậc tiền bối mặc dù Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của họ. Người ra đi tìm đường cứu nước, “xem họ làm thế nào”, đi tìm sự mách bảo của thời đại để cứu nước cứu dân.
Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở đó con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam: cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam phải hoà nhập chung vào phong trào cách mạng vô sản thế giới, là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới. Trên mặt trận lý luận tư tưởng, Nguyễn Ái Quốc kiên quyết chống lại chủ nghĩa cơ hội, bảo vệ và phát triển quan điểm về mối quan hệ khăng khít cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản thế giới của Lênin. Người nói: Cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch”. Vai trò của cách mạng thuộc địa rất to lớn, không có họ thì cách mạng vô sản không thể giành thắng lợi.
“Lênin là người đầu tiên"1 đã nhận thức đúng vấn đề đó. Theo Nguyễn Ái Quốc, thuộc địa là nơi mà "tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ công nhân rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó" 2. Người khái quát: Lịch sử tất cả cuộc xâm chiếm thuộc địa nào thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu của người bản xứ.
Sự bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã đưa các nước thuộc địa đến chỗ đoàn kết để cùng nhau chống lại chủ nghĩa tư bản, lựa chọn đi theo con đường cách mạng vô sản. Sự phân 1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 131 tích trên của Nguyễn Ái Quốc là một thực tế về vai trò của cách mạng thuộc địa đối với cách mạng vô sản thế giới và sự cần thiết phải gắn bó chặt chẽ cách mạng dân tộc với cách mạng vô sản thế giới. Quan điểm này còn góp phần đập tan luận điệu của chủ nghĩa cơ hội cho rằng: chủ nghĩa đế quốc đi xâm lược các nước thuộc địa, đóng vai là nhà “khai hoá, truyền bá văn minh” đối với các dân tộc còn lạc hậu, trình độ phát triển thấp; các dân tộc thuộc địa chưa có đủ khả năng để giải phóng mình, vì họ còn thấp kém về mọi mặt; giai cấp vô sản thế giới chưa thể giúp giai cấp vô sản thuộc địa giải phóng được, để làm được điều đó cần phải có thời gian tích luỹ lực lượng.
Hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Nguyễn Ái Quốc tìm mọi cách gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Người khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới"1. Cách mạng ở phương Đông chậm phát triển và suy yếu vì có một nguyên nhân là “sự biệt lập”. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng riềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau.
Biết được nguyên nhân suy yếu của cách mạng, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy phải tuyên truyền giáo dục để làm cho các dân tộc thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau đi đến hiểu nhau hơn và đoàn kết lại để cùng nhau chống kẻ thù chung. Người đưa ra luận điểm nổi tiếng về bản chất của chủ nghĩa tư bản và sự cần thiết phải hợp lực các dân tộc bị áp bức chống lại kẻ thù của mình. "Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các nước thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi.
Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra"2. Như vậy, chủ nghĩa thực dân không chỉ là kẻ thù của các dân tộc bị áp bức, mà còn là kẻ thù của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc. Do đó, cách mạng Việt Nam phải liên hệ với cách mạng thế giới, ai làm cách mạng trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam để cùng nhau đánh đuổi kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng vô sản thế giới, quan điểm trên của Hồ Chí Minh đã chỉ rõ chiều hướng đi lên 1 Sđd, tập 2, tr.120 132 tất yếu của dân tộc Việt Nam, chủ động đưa nước ta hoà nhập xu thế chung của thời đại để đạt đến mục đích.
Đây là công lao to lớn của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc bị áp bức khác. Tư tưởng đó làm cơ sở cho Đảng ta xác định đường lối lãnh đạo gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới để phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng Hồ Chí Minh khẳng định: “Tinh thần yêu nước chân chính. là một bộ phận của tinh thần quốc tế”1.
Do đó, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chỉ được phát huy khi kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Là người yêu nước chân chính, Hồ Chí Minh đã triệt để phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Người cũng đồng thời là chiến sĩ cộng sản quốc tế đã suốt đời đấu tranh không mệt mỏi để củng cố tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và các dân tộc khác đang đấu tranh cho mục tiêu chung là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Người nhấn mạnh: Đảng ta lấy toàn bộ hoạt động thực tiễn của mình để chứng minh chủ nghĩa yêu nước chân chính không thể nào tách rời chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Trước việc kẻ thù tuyên truyền chủ nghĩa chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, thói kỳ thị màu da, tiếng nói, phong tục, tập quán. để chia rẽ giữa các dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ ra cách mạng vô sản phải thực hiện triệt để tư tưởng kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Từ đó, muốn giải phóng mình thì nhân dân “bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức”2. Người không giấu nổi niềm phấn khởi khi thấy Trường đại học phương Đông đã thể hiện rõ tư tưởng của Lênin trong đoàn kết các dân tộc thuộc địa: “Làm cho các dân tộc thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”3.
Rằng đây bốn biển một nhà, vàng đen trắng đỏ đều là anh em.124 133 Để phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện giành độc lập cho dân tộc, trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi mọi người phân biệt rõ sự khác nhau giữa nhân dân lao động yêu chuộng hoà bình, tự do với bọn thực dân đế quốc; nhân dân lao động Pháp với bọn thực dân xâm lược Pháp. Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược gây bao tội ác đối với nhân dân Việt Nam, nhưng Hồ Chí Minh vẫn luôn đề cao văn hoá Pháp, ca ngợi truyền thống đấu tranh cho độc lập tự do của nhân dân Mỹ. Hàng loạt những biểu hiện nêu trên đã làm cho thế giới hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tạo ra làn sóng phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam không ngừng được mở rộng cả ở trong nước và thế giới.