Chương 1 NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI 1.1 - Vấn đề con người trong hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh 1.1 - Vị trí và vai trò của vấn đề con người trong hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh không bao giờ tự nhận mình là một nhà triết học và Người cũng không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về con người là một tư tưởng xuyên suốt, thâm nhập toàn bộ hệ thống, được biểu hiện thật đa dạng và phong phú. Vấn đề con người và giải phóng con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi. Nó thấm đượm trong toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người, được tỏa sáng trong từng việc làm, cử chỉ, từng mối quan tâm ân cần đến mỗi con người. Vấn đề con người có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu các tác phẩm của Hồ Chí Minh ta nhận thấy tư tưởng và triết lý của Người, coi con người là trung tâm của quá trình phát triển. Từ trước đến nay, vấn đề con người thường thu hút nhiều sự bàn luận, nhiều kiến giải. Những sự bàn luận, kiến giải ấy thường xoay quanh chủ đề: cốt cách, bản chất của con người là gì? Con người có vị trí và vai trò như thế nào trong quá trình sinh tồn và phát triển? Những kiến giải đó xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu về con người, thể hiện quan điểm triết học, tâm lý học, sinh học, xã hội học, chính trị học, kinh tế học, văn hóa học … Trong đó, có quan điểm coi con người sinh thành và phát triển từ sự chi phối, quyết định có sẵn bởi một lực lượng nằm bên ngoài thế giới thực tại. Có quan điểm tuyệt đối hóa đặc trưng sinh vật để xem xét bản chất con người.
Có quan điểm nhấn mạnh về “con người kỹ thuật”, lấy tiêu chí phát triển từ công cụ sản xuất để xét đoán bản chất con người. … TIEU LUAN MOI download 8: skknchat@gmail.com Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét con người là sinh vật có tính xã hội - bản chất của con người không phải là cái trừu tượng cô lập ở từng cá nhân; trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa tất cả các quan hệ xã hội. Con người sinh thành, trưởng thành vừa từ những đặc điểm sinh học, chịu sự tác động của các quy luật tự nhiên, vừa chịu ảnh hưởng quyết định của sự tương tác các quan hệ xã hội. Đó là, trong quá trình lao động sản xuất con người hình thành và phát triển tình cảm đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ.
Do đó, con người đối xử có tính người đối với tự nhiên, đối với những người khác và đối với bản thân mình. Triết học Mácxít coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển. Mục tiêu của quá trình phát triển xã hội là hướng vào việc đáp ứng nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người xã hội nói chung, mỗi con người cá thể nói riêng. Đồng thời, quá trình phát triển đó đạt tới sự tăng trưởng và phát triển bền vững lại do sức mạnh của chính con người, của tập thể những con người đó trong đời sống cộng đồng.
Mỗi con người không thụ động hưởng sự phát triển mà là chủ thể và động lực của quá trình phát triển. Lý tưởng của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, nhằm đáp ứng một cách hài hòa các nhu cầu của con người về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, nâng cao chất lượng tổng thể của đời sống, đồng thời thường xuyên giáo dục cho mỗi con người có đủ năng lực phẩm chất sáng tạo trong quá trình phát triển xã hội. Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đời mình, đã có những chỉ dẫn sâu sắc và những việc làm thiết thực về con người. Đây là một di sản vô giá mà Người để lại cho đất nước và dân tộc.
Sinh thời, những lời dạy của Người đã chỉ ra cho dân tộc ta một đường lối đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng con người, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho con người. Hồ Chí Minh có một lý tưởng và hoài bão mà Người gọi là sự ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho Tổ quốc được hoàn toàn độc lập, TIEU LUAN MOI download 9: skknchat@gmail.com dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào mình ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn coi trọng và đặt công việc đầu tiên là công việc với con người. Người từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”.
“Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân” [36; tr.240] Đây cũng là tư tưởng lớn, nhất quán trong suốt cuộc đời của Hồ Chí Minh. Người đã khắc họa sâu sắc vấn đề con người trong nội dung bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh chế độ dân chủ cộng hoà Việt Nam: chế độ mới đảm bảo cho người dân Việt Nam quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do. Thể hiện sự quan tâm và đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trong thư gửi các đồng chí cán bộ, đảng viên, công chức trong bộ máy chính quyền mới (10 - 1945), Người nhấn mạnh: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì.
Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc …Việc gì lợi cho dân phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh” [36; tr.56 - 57] Sau ngày tuyên bố độc lập, cùng với nhiệm vụ củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng chính quyền nhân dân, Hồ Chí Minh chú trọng thực hiện những việc cần làm ngay là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, xây dựng đời sống mới. Trước mắt, phải xoá đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển "làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm"[37; tr. Kinh tế có phát triển đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh.
Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định trước sau như một, là chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có đủ cơ sở và điều kiện để thực hiện công cuộc giải phóng con người một cách triệt để và thiết thực. Tức là thực hiện được đầy đủ TIEU LUAN MOI download10: skknchat@gmail.com các quyền của con người, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả mọi người. Khi tình thế cách mạng khó khăn, lâm nguy, bị bao vây bốn phía, đe dọa nền độc lập của Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện sách lược hòa hoãn với Pháp cũng nhằm tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, kiến thiết đất nước. Ngày 30 - 5 - 1946, trước khi sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Hồ Chí Minh đã nói chuyện với đồng bào Thủ đô, Người khẳng định: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân.
Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó”.240] Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp của cả dân tộc, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì mục tiêu đã vạch ra, Người xác định nhiệm vụ nội chính của Chính phủ kháng chiến trong thư gửi đồng bào và kháng chiến Nam Bộ ngày 24/1/1947: “Sau hết chương trình nội chính của Chính phủ và của quân dân ta chỉ có ba điều mà thôi: a - Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc đủ ăn. b - Mở mang giáo dục để cho ai nấy đều biết đọc biết viết. c - Thực hành dân chủ để làm cho dân ta ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do”.30] Vào cuối đời, trước khi đi xa, trong Di chúc để lại, Người nhấn mạnh: “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Người dặn dò chu đáo như sau: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị các chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái cần cù. Từ ngày có Đảng nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng. TIEU LUAN MOI download11: skknchat@gmail.com Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.511] Người nhắc nhở Đảng và Chính phủ, mọi người phải tìm mọi cách giúp đỡ cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong, những người đã dũng cảm hy sinh xương máu để họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, mở những lớp dạy nghề thích hợp để họ dần dần tự lực cánh sinh. Cũng ở trong Di chúc, Người căn dặn phải làm nhiều hơn trong cuộc cách mạng đem quyền bình đẳng cho phụ nữ, miễn thuế nông nghiệp một năm cho nông dân, phát triển công tác vệ sinh, y tế, sửa đổi chế độ giáo dục sao cho hợp với hoàn cảnh của nhân dân, có kế hoạch đào tạo tiếp các chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc, trở thành những người xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Như vậy, suốt đời Hồ Chí Minh đã làm việc, đã đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân, của con người. Trong khi đặt niềm tin vào con người, Hồ Chí Minh cũng tìm mọi cách phát huy mọi tiềm năng trí tuệ và phẩm chất đạo đức của con người. Đó là hai mặt hợp thành nhân cách, tính cách ở một con người, có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Chính hai mặt đó đã đặt con người vừa ở vị trí mục tiêu của sự nghiệp cách mạng vừa ở vị trí chủ thể của cách mạng.