Luận văn: Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh - Một số vấn đề nhận thức

Tìm hiểu tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh cùng những vấn đề nhận thức then chốt. Phân tích giá trị lý luận và định hướng đổi mới giáo dục Việt Nam.

Chuyên ngành

Hồ Chí Minh học

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh trong lịch sử

Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh hình thành từ truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam. Hệ thống quan điểm này tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lênin giữ vai trò nền tảng thế giới quan và phương pháp luận. Hồ Chí Minh tiếp cận giáo dục bằng tầm nhìn cách mạng sâu sắc. Giáo dục được coi là vũ khí chiến đấu giải phóng dân tộc và con người. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, giáo dục phải nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài. Nhận thức đúng về tư tưởng giáo dục của Người tạo cơ sở định hình nền giáo dục cách mạng. Hệ thống lý luận này khẳng định học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân. Mọi tầng lớp nhân dân đều bình đẳng trong tiếp cận tri thức. Triết lý giáo dục hướng đến sự giải phóng toàn diện cho con người. Nhân cách được bồi đắp thông qua sự kết hợp giữa đạo đức cách mạng và tri thức khoa học. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng chế độ mới.

1.1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng

Nguồn gốc tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo và lòng yêu nước là mạch nguồn nuôi dưỡng tư duy của Người. Hồ Chí Minh đã tiếp thu phép biện chứng và quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người cũng chọn lọc các giá trị tiến bộ từ tư tưởng phương Đông và phương Tây. Nhân tố chủ quan đóng vai trò then chốt trong quá trình hình thành tư tưởng. Năng lực tự học, tư duy độc lập cùng tinh thần sáng tạo đã đúc kết nên một hệ thống lý luận giáo dục hoàn chỉnh và tiến bộ.

1.2. Bản chất nền giáo dục cách mạng

Bản chất nền giáo dục cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Giáo dục không mang tính chất đặc quyền của giai cấp thống trị. Nền giáo dục mới hướng tới mục tiêu phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân lao động. Triết lý giáo dục đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động đào tạo. Giáo dục gắn liền với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu cốt lõi là đào tạo những công dân có ích, có lý tưởng và có lòng yêu nước. Nền giáo dục nhân bản này luôn hướng tới việc phát huy tối đa tiềm năng cá nhân.

II. Phân tích nhận thức về tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh cốt lõi

Phân tích tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh cho thấy nội dung giáo dục luôn mang tính toàn diện. Giáo dục bao gồm đức, trí, thể, mỹ. Trong đó, đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Tài năng là yếu tố quan trọng để phụng sự nhân dân. Nếu có tài mà không có đức thì trở thành vô dụng. Nếu có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Hai yếu tố này luôn gắn bó chặt chẽ và không thể tách rời. Vấn đề nhận thức về giáo dục thể lực và mỹ lực cũng giữ vị trí then chốt. Sức khỏe thể chất tạo nền tảng cho mọi hoạt động tư duy và lao động. Mỹ dục giúp con người biết phân biệt cái đẹp và cái xấu, hướng tâm hồn tới cái thiện. Nền giáo dục toàn diện tạo ra những con người phát triển hài hòa. Nhận thức đúng đắn về các thành tố này ngăn chặn xu hướng giáo dục lệch lạc. Việc chỉ chú trọng kiến thức sách vở mà xem nhẹ đạo đức và thực hành là một sai lầm lớn. Giáo dục phải bám sát hơi thở của đời sống thực tiễn.

2.1. Mối quan hệ giữa đức và tài

Mối quan hệ giữa đức và tài là trục trung tâm trong triết lý giáo dục của Hồ Chí Minh. Đức là nền tảng, định hướng cho tài năng phục vụ đúng mục đích xã hội. Người có đạo đức trong sáng sẽ dùng tri thức để phụng sự nhân dân và đất nước. Tài năng là công cụ hiện thực hóa lý tưởng đạo đức. Nếu thiếu năng lực chuyên môn, nhiệt huyết cách mạng khó đạt kết quả cụ thể. Do đó, giáo dục phải rèn luyện song song cả phẩm chất lẫn chuyên môn. Sự phát triển mất cân đối giữa hai yếu tố này sẽ gây tổn hại lớn cho xã hội.

2.2. Vấn đề thể lực và mỹ lực

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của thể lực và mỹ lực trong sự phát triển con người. Thể dục thể thao giúp nâng cao sức khỏe để học tập và lao động bền bỉ. Một tinh thần minh mẫn chỉ tồn tại trong một cơ thể khỏe mạnh. Mỹ dục đóng vai trò định hình nhân cách và thẩm mỹ. Giáo dục thẩm mỹ giúp con người nhận biết cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống. Cái đẹp chân chính luôn gắn liền với cống hiến cho cộng đồng. Việc kết hợp thể lực và mỹ lực tạo nên con người phát triển toàn diện, tự tin và giàu lòng nhân ái.

III. Phương pháp đổi mới theo tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh sâu sắc

Phương pháp giáo dục theo tư tưởng Hồ Chí Minh lấy nguyên lý học đi đôi với hành làm cốt lõi. Lý luận phải liên hệ chặt chẽ với thực tiễn. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không thông suốt. Giáo dục phải kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Ba môi trường này tạo thành thế chân kiềng vững chắc để rèn luyện nhân cách người học. Bên cạnh đó, phương châm tự học và học tập suốt đời được nhấn mạnh như một giải pháp then chốt. Người học phải phát huy tinh thần tự giác, chủ động tìm tòi tri thức. Giáo viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy, xóa bỏ lối truyền thụ một chiều. Việc dạy học phải khơi dậy tính tích cực, sáng tạo và tư duy phản biện của học sinh. Người dạy cần nêu gương sáng về đạo đức và tinh thần học hỏi. Nêu gương là phương pháp giáo dục trực quan và có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất đối với thế hệ trẻ.

3.1. Học đi đôi với thực hành

Nguyên lý học đi đôi với hành là phương pháp then chốt được Hồ Chí Minh đúc kết từ thực tiễn cách mạng. Tri thức thu nhận trên giảng đường phải được ứng dụng trực tiếp vào giải quyết các bài toán đời sống. Phương pháp này giúp khắc phục triệt để lối học vẹt, học chay và căn bệnh giáo điều kinh viện. Quá trình thực hành giúp người học củng cố kiến thức lý luận và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Sự gắn kết giữa trường học và xã hội tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng đúng yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước.

3.2. Đề cao tinh thần tự học

Tự học là con đường ngắn nhất và bền vững nhất để tích lũy tri thức nhân loại. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học phi thường trong suốt cuộc đời. Tự học đòi hỏi tính kiên trì, kỷ luật và niềm đam mê khám phá chân lý. Phương pháp giáo dục hiện đại cần hướng dẫn người học cách tự nghiên cứu tài liệu và tư duy độc lập. Học tập không chỉ dừng lại trong phạm vi nhà trường mà phải kéo dài suốt đời. Việc xây dựng xã hội học tập giúp mỗi cá nhân liên tục nâng cao trình độ, thích ứng với mọi biến đổi của thời đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh hiện đại nay

Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh giữ nguyên giá trị lý luận và tính thời sự sâu sắc trong bối cảnh đổi mới hiện nay. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phải dựa trên nền tảng tư tưởng nhân văn của Người. Việc lấy người học làm trung tâm và phát triển toàn diện năng lực là định hướng chiến lược. Ứng dụng tư tưởng của Người giúp định hình hệ thống giáo dục mở, linh hoạt và công bằng. Mọi chính sách phát triển giáo dục cần hướng tới nâng cao chất lượng dạy và học ở mọi cấp bậc. Đội ngũ nhà giáo phải không ngừng trau dồi chuyên môn và giữ gìn phẩm chất đạo đức. Xây dựng môi trường học đường văn hóa, lành mạnh và sáng tạo là nhiệm vụ cấp bách. Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh tiếp tục là ngọn đuốc soi đường cho công cuộc chấn hưng giáo dục quốc gia trong kỷ nguyên số.

4.1. Đổi mới căn bản và toàn diện

Công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay quán triệt sâu sắc các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chương trình giáo dục chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Mô hình dạy học chú trọng phương pháp tích cực, khuyến khích học sinh tự khám phá kiến thức. Việc chuyển đổi số trong giáo dục mở rộng cơ hội học tập bình đẳng cho mọi tầng lớp nhân dân. Tinh thần của Người là kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện đại.

4.2. Xây dựng xã hội học tập

Xây dựng xã hội học tập là sự hiện thực hóa tư tưởng học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mô hình này tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân được tiếp cận giáo dục thường xuyên, liên tục. Phong trào khuyến học, khuyến tài lan tỏa mạnh mẽ trong các gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư. Tinh thần tự học của Người truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ chủ động nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng số. Một xã hội học tập phát triển là nền tảng vững chắc cho sự thịnh vượng quốc gia.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Tư tưởng giáo dục hồ chí minh một số vấn đề nhận thức

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương 4 tiết. 12 Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC HỒ CHÍ MINH 1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng giáo dục Hồ Chí Minh 1. Ảnh hưởng giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc 1.

Ảnh hưởng của gia đình Giáo dục gia đình là hình thức giáo dục nổi bật, phổ biến, dành cho bất cứ ai, nhất là với Việt Nam - một đất nước vốn đề cao vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách con người và có vai trò cơ bản, quyết định. Giáo dục gia đình đã trở thành một hình thức lưu giữ “nếp nhà” qua mỗi thế hệ. Nguyễn Sinh Cung được sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Ông ngoại của Người là một nhà Nho có uy tín, giàu tình thương yêu, cụ đã mở lớp dạy chữ Hán ngay tại nhà cho một số con em trong làng nên được rất nhiều người kính trọng.Thore từng nói: “Người cha chính là người thầy đầu tiên của đứa trẻ” - cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một người cha, người thầy vĩ đại như thế.

Cha của Nguyễn Sinh Cung là một người yêu nước, thương nòi, vốn thông minh, hiếu học, là một người thầy giáo mẫu mực luôn giúp người, giúp đời. Ông cũng chính là người thầy đầu tiên trong cuộc đời của con trai mình. “Học tài, thi phận” con đường thi cử của ông không hoàn toàn hanh thông. Năm 1891, ông dự kỳ thi hương lần đầu nhưng chỉ đỗ “nhị trường”.

Không nản chí, năm 1894 ông đã đỗ Cử nhân trong kỳ thi Hương. Tiếp tục dấn thân vào con đường thi cử, ông đã trải qua 3 lần thi Hội (1895, 1898, 1901) và đến lần thứ 3 mới đỗ Phó Bảng. Bằng việc bền bỉ theo đuổi “nghiệp đèn sách”, ông đã dạy cho các con mình bài học về tinh thần hiếu học và ý chí kiên cường để đạt được mục tiêu đề ra. Qua tấm gương của cha mình, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã dần thấu hiểu tầm quan trọng của ý chí tự học, để rồi sau này, “dạy cách tự học”, quyết tâm tự học đã trở thành một nội dung trong nguyên tắc giáo dục của Hồ Chí Minh.

Nếu Cha của Nguyễn Sinh Cung là bậc “Danh sư” thì mẹ của Người - bà Hoàng Thị Loan (1868 - 1901) chính là “Từ mẫu”, là hình ảnh của người phụ nữ 13 Việt Nam hiền hậu, hết lòng vì chồng con. Bà luôn dạy cho con về cách sống, tình yêu thương những người xung quanh. Là con cụ đồ Nho, so với những người phụ nữ cùng thời, bà cũng biết ít nhiều chữ nghĩa và thuộc rất nhiều ca dao, dân ca, truyện Kiều. Bà đã gieo vào tâm hồn những đứa con của mình cả một tình yêu thương nhẹ nhàng mà tha thiết với quê hương, đất nước.

Đức tính quý báu của người mẹ như những sợi tơ dệt nên nhân cách Nguyễn Sinh Cung trong thời thơ ấu và những gì mẹ dạy đã trở thành một phần quan trọng trong nội dung giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước của Người sau này. Ảnh hưởng của quê hương Nam Đàn được mệnh danh là “đất văn vật, chốn thi thư”, nổi tiếng không chỉ vì nhiều người đỗ đạt mà chính tinh thần hiếu học, chăm chỉ, thông minh, trí tuệ trong sáng, có nghĩa khí, trọng đạo lý làm người, yêu nước, chống cường quyền bạo ngược,… mới là nét nổi bật trong tính cách của trí thức Nam Đàn nói riêng và trí thức Nghệ Tĩnh nói chung. Ở mảnh đất này, ngoài những người có tên trong bảng vàng, có học vị, còn bao người khác học lực uyên thâm, tư duy sáng lạng, trí tuệ vượt trội, nhưng không đi thi hoặc thi không đỗ, bởi họ đã vượt ra ngoài phép tắc thi cử. Họ chỉ là ông đồ, anh học, anh nho… nhưng được nhân dân mến phục, ngợi ca học tập.

Chính vì điều đó mà sĩ tử Nam Đàn luôn được sĩ tử các địa phương khác phải kiêng nể, trân trọng. Họ “sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa”, song “ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà”. Thời gian nào, Nam Đàn cũng có “tứ hổ”. Cuối thế kỷ XIX là “Lai, Chinh, Chính, Chỉ” được bà con nhắc đến luôn.

Đến đầu thế kỷ XX, nhân dân thường tự hào: “Nam Đàn tứ hổ là đây Song, San, Lương, Quý một bầy bốn anh” [39; tr. 134] “Một bầy bốn anh” đó là: Trần Quý Song đậu cử nhân khoa Giáp Ngọ, đậu tiến sỹ khoa Mậu Tuất; Phan Văn San (Phan Bội Châu) đậu giải Nguyên khoa Canh Tý (1900); Trần văn Lương đậu cử nhân khoa Giáp Ngọ (1984); Vương Thúc Quý đậu cử nhân Khoa Tân Mão (1891). Họ còn được bà con, bạn bè ca ngợi trong bốn câu: 14 “Mẫn tiệp bất như San Thông minh bất như Quý Cường kỳ bất như Lương Thâm thúy bất như Song” [39; tr. 134] Vì lẽ đó, khi nói về quê hương Nam Đàn, nhà sử học Phan Huy Chú đã nhìn thấy quê hương mình không chỉ là vùng “đất xấu, dân nghèo, tập tục cần kiệm, nhà nông chăm chỉ làm ruộng nương, học trò ưa chuộng học hành” [34; tr.

121], mà còn là nơi “núi cao sông rộng, phong tục thuần hậu, cảnh tượng tươi sáng gọi là đất danh tiếng hơn cả Nam Châu. Người thì thuần hậu mà chăm học…Được khí tốt của núi sông nên sinh ra nhiều bậc danh hiền” [16; tr. Có thể thấy, chính từ truyền thống hiếu học của quê hương Nam Đàn nói riêng và mảnh đất xứ Nghệ nói chung mà trong suốt cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã luôn cần cù, tự giác học tập mỗi ngày và “tự học, học tập suốt đời” đã trở thành một trong những phương châm trọng tâm trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, những ngày tháng học tập tại quê nhà, Nguyễn Tất Thành được gửi đến học chữ Hán với các thầy Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau này là thầy Trần Thân - các thầy đều là những người yêu nước, đã có những ảnh hưởng sâu sắc tới Người.

Ở thầy Hoàng Phan Quỳnh, dù thời gian học tập bên thầy chỉ có gần 8 tháng nhưng hình ảnh người thầy học rộng, yêu nước, tuy đỗ Cử nhân và được làm quan nhưng ông từ quan về dạy học đã trở thành kỷ niệm đẹp, khó phai mờ trong tâm trí cậu bé Nguyễn Sinh Cung ngày ấy. Đối với người thầy Vương Thúc Quý - một người có tấm lòng yêu nước sâu sắc. Học trò của thầy không đông nhưng đều là những thanh niên ưu tú. Thầy không dạy theo lối tầm chương, trích cú mà mượn những đoạn văn tích cực để dạy cho học trò về đạo lý làm người, biết sống ích nước lợi dân, ca ngợi nghĩa khí của các bậc anh hùng đã xả thân vì nghĩa lớn và nguyền rủa quân thù cướp nước.

Sau này là thầy Trần Thân, ông cũng là một nhà Nho sống thanh bạch, khẳng khái, trọng nghĩa khinh tài. Thầy thường khuyên học trò: Độc thi môn tâm tự vấn/ Hào vô kim hắc chi lâm (Nghĩa là: Đọc thơ cần phải tự vấn lương tâm của mình/ Đừng mảy may để cho vàng làm dơ tấm lòng). Có thể thấy rằng, đây không chỉ là 15 những người thầy dạy chữ, mà còn dạy cho Người nhân cách làm người. Cũng chính từ tấm gương của những người thầy trong thời thơ ấu như thế đã hình thành nên trong tư tưởng giáo dục sau này của Hồ Chí Minh về nội dung giáo dục đạo đức, phương pháp giáo dục không phụ thuộc vào sách vở, tránh lối dạy nhồi sọ, coi trọng người tài và đặc biệt là phẩm chất mẫu mực của một người thầy… 1.

Ảnh hưởng của văn hóa dân tộc Sự học ở nước ta có thể được tính từ khi tiếp nhận chữ Hán và tư tưởng giáo dục của Khổng giáo. Suốt cả nghìn năm, người Việt Nam học chữ Hán và sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thức để ghi chép. Nền giáo dục Việt Nam lúc này đã bắt đầu có trường lớp, chủ thể giáo dục, đối tượng giáo dục. Nền giáo dục Hán học được tiếp nhận ở nước ta trên hai phương diện: học về nghĩa lý, tức là học chữ thánh hiền; học từ chương khoa cử, tức là học để ra làm quan.

Nền giáo dục lúc này đã chỉ ra được mục đích giáo dục và nội dung giáo dục cụ thể. Về mục đích giáo dục, theo quan điểm thời đó, người đi học có ba mục đích: một là, để hiểu biết cương thường đạo lý; hai là, để thi ra làm quan, mang tài ra kinh bang tế thế, làm tròn sứ mạng của kẻ sĩ đối với vua, với nước và cũng là để hưởng công danh lâu dài; ba là, đối với dân quê, dù chân lấm tay bùn cũng cố gắng cho con đi học dăm ba năm lấy cái chữ để biết đọc gia phả của dòng họ, biết viết văn tự mua bán nhà cửa, trâu bò để khỏi bị người khác lừa gạt [86; tr. Nhưng cao hơn cả trong giá trị giáo dục của dân tộc là học chữ thánh hiền để làm người bởi “Nhân bất học bất tri lý”. Về nội dung giáo dục: Giáo dục Việt Nam chú trọng đạo làm người, những phương thức cư xử trong đời sống, trong quan hệ xã hội, gia đình, bè bạn… Điều này giúp chúng ta hiểu rõ, vì sao khi đề ra nội dung giáo dục, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc giáo dục đạo đức, nhân cách, trách nhiệm đối với quê hương, đất nước.

Hồ Chí Minh cũng kế thừa các truyền thống giáo dục tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Trước hết, đó là truyền thống hiếu học. Hiếu học là một truyền thống quý báu trong giáo dục của nhiều thế hệ người Việt Nam. Hiếu học là thích học, cần cù vượt khó trong học tập, muốn hiểu biết mọi mặt để trở thành người.

Lịch sử dân tộc ta đã từng biết đến rất nhiều tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài, 16 đức cao đạo trọng như: Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Lê Thánh Tông, Lê Quý Đôn. Ngay cả ở quê hương Nam Đàn tỉnh Nghệ An của Hồ Chí Minh cũng là một mảnh đất nổi tiếng hiếu học với nhiều người học giỏi, đỗ cao. Đó là truyền thống tôn sư trọng đạo. Đây là truyền thống đạo lý mang đậm giá trị nhân văn của dân tộc Việt Nam.

Truyền thống này được cha ông ta tạo dựng, bồi đắp qua ngàn đời. Trong quan điểm giáo dục truyền thống, trọng thầy đi liền với coi trọng sự học. Người thầy được coi là biểu tượng thiêng liêng của sự học, là “khuôn vàng thước ngọc” của đạo đức, nhân cách để học trò noi theo mà trở thành người có đức, có nhân, có tài để đứng ra giúp nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Lê Thu Nguyệt (2021), Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh - Một số vấn đề nhận thức, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội.
APA 7
Lê, T. N. (2021). Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh - Một số vấn đề nhận thức [Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/tu-tuong-giao-duc-ho-chi-minh-mot-so-van-de-nhan-thuc/9443556633
IEEE
T. N. Lê, "Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh - Một số vấn đề nhận thức," Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2021. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/tu-tuong-giao-duc-ho-chi-minh-mot-so-van-de-nhan-thuc/9443556633

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác