Chương 1 BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG ĐỨC TRỊ CỦA NHO GIÁO KHỔNG – MẠNH 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng Đức trị Nho giáo với tính cách là một hệ thống xuất hiện ở Trung Quốc từ thời Cổ đại do Khổng Tử (551 – 479 TCN) sáng lập ra và sau đó được nhiều thế hệ nhà Nho tiếp thu và phát triển. Xuân Thu và Chiến Quốc là hai thời kỳ lịch sử của xã hội Đông Chu. Xét về niên đại, thời kỳ Xuân Thu được bắt đầu từ năm 772 đến năm 480 TCN và thời Chiến Quốc bắt đầu từ năm 479 đến năm 220 TCN. Theo nhiều tài liệu lịch sử, chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển qua các triều đại nhà Hạ, Thương và đến cuối thời kỳ Tây Chu thì bắt đầu khủng hoảng và ngày càng suy tàn hơn.
Từ đây, xã hội Trung Quốc bắt đầu bước vào thời đế chế mà lịch sử vẫn gọi là thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Có thể xem đây là giai đoạn giao thời giữa hai chế độ nô lệ thị tộc và phong kiến, và cũng là giai đoạn mà những giá trị về tư tưởng và đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, những giá trị đạo đức mới đang hình thành, phát triển. Chính vì thế, đã tạo ra sự biến đổi toàn diện và sâu sắc trong rất nhiều các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… 1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, ý thức xã hội do tồn tại xã hội quyết định và phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định.Mác cho rằng: “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [46, tr. Tư tưởng trị nước của mỗi thời đại bao giờ cũng phản ánh những dấu ấn của thời đại đó.
Với tính cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, một hình thái ý thức xã hội, Nho giáo (trong đó có tư tưởng Đức trị) cũng nảy sinh, tồn tại trên một cơ sở hạ tầng, một tồn tại xã hội nhất định. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên lĩnh vực kinh tế: Xã hội Trung Quốc đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc, công cụ lao động chuyển từ thời đại đồ đồng sang công cụ bằng sắt đã xuất hiện, đưa lực lượng sản xuất lên trình độ cao hơn. Vào thời kỳ này, với việc chế tạo những phát minh, sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất trong nông nghiệp. Có thể nói, điều này đã đánh dấu sự thay đổi vượt bậc của nền kinh tế Trung Quốc.
Nếu như trước đây, tư liệu sản xuất (trong đó có ruộng đất) đều nằm thuộc quyền sở hữu của nhà Chu thì giai đoạn này đã có sự thay đổi, đó là việc biến ruộng đất của công thành ruộng đất của tư ngày càng nhiều dẫn đến sự tan rã của chế độ “tỉnh điền”. Về sau, pháp luật đã có sự thay đổi, đó là việc công nhận sự tồn tại của chế độ tư hữu ruộng đất. Việc thay thế công cụ bằng đồng sang sử dụng công cụ bằng sắt lúc này ngày càng trở nên phổ biến và sự mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động trong nền sản xuất thủ công nghiệp ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn, rất nhiều ngành nghề đã được mở ra như nghề rèn, nghề mộc, nghề đúc…Điều này đã tạo nên sự cách biệt giữa những người làm nông nghiệp ở vùng nông thôn với những người làm nghề buôn bán ở khu vực thành thị, bắt đầu có sự phân hóa giữa tầng lớp quý tộc với những người làm nghề buôn bán ở khu vực thành thị, bắt đầu có sự phân hóa giữa tầng lớp quý tộc với những người được coi là hèn mọn, tiểu nhân trong xã hội. Trên cơ sở phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước, tiền tệ đã xuất hiện.
Đây là thời kỳ khởi sắc của nền kinh tế thương nghiệp. Trong thời kỳ này, ở Trung Quốc xuất hiện nhiều thành thị thương nghiệp buôn bán, xuất nhập nhộn nhịp ở các nước Hán, Tề, Tần, Sở. Thành thị đã có một cơ sở kinh tế tương đối độc lập, từng bước tách ra khỏi thành thị, thị tộc của quý tộc và dần trở thành những đơn vị, khu vực kinh tế của tầng lớp địa chủ mới lên. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự biến động trong lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng, tác động to lớn đến các mặt của lĩnh vực chính trị - xã hội.
Nó làm xuất hiện một cục diện mới trong xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc, đó là tình trạng các nước chư hầu nổi lên lấn át địa vị và quyền lực của nhà Chu. Sự phát triển của sức sản xuất, kinh tế phát triển đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội. Nhiều tầng lớp mới xuất hiện và ngày càng khẳng định vị trí của mình. Mới, cũ cùng đan xen tồn tại.
Mỗi tầng lớp luôn đại diện cho những lợi ích riêng của mình. Do đó, những mâu thuẫn giữa các giai tầng được hình thành và ngày càng phát triển, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với giai cấp nông dân và các tầng lớp bị thống trị khác. Nếu như, vào đầu thời Chu, “Đất đai và thần dân ở khắp dưới gầm trời này không đâu không phải là sở hữu của nhà vua” (Kinh thi) thì nay, cái quyền sở hữu tối cao (về đất và dân) ấy đã bị một tầng lớp người mới lên có sức mạnh kinh tế tấn công và chiếm lấy làm tư hữu. Tầng lớp quý tộc, thị tộc – cơ sở xã hội của nhà Chu - do bị mất đất, mất dân, địa vị kinh tế ngày càng sa sút, vì vậy mà đương nhiên, địa vị và vai trò chính trị cùng ngôi thiên tử của nhà Chu ngày càng suy giảm và trên thực tế chỉ còn là hình thức.
Các nước chư hầu của nhà Chu không những không chịu phục tùng vương mệnh, không chịu cống nạp mà còn phát động chiến tranh thôn tính lẫn nhau, luôn tự xưng và tự cho mình là bá chủ thiên hạ. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên miêu tả thời kỳ này là thời đại “vương đạo suy vi”, “bá đạo” cường thịnh, lấn át “vương đạo”. Trong tình trạng đó, các quốc gia liên tục gây nên những cuộc chiến tranh sát phạt, thôn tính lãnh thổ của nhau. Trong nội bộ các nước – đặc biệt là các nước lớn – quý tộc chia bè lập cánh, chia cắt đất đai của các nước chư hầu để mở rộng bờ cõi.
Vì thế, đến đầu thời Chu có vào khoảng trên dưới 1000 nước chư hầu thì đến thời Xuân Thu chỉ còn lại hơn trăm nước. Tương đối lớn chỉ còn khoảng chục nước, trong đó, mạnh nhất là nhóm Thất hùng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chiến tranh càng dai dẳng và khốc liệt, nhân dân càng gánh chịu nhiều tổn thất. Đời sống vốn đã cơ cực ngày càng lâm vào bế tắc “hỏi trời xanh thăm thẳm, bao giờ chúng tôi mới có được một nơi thái bình – Du du thượng thiên, hạt kỳ hữu sở” [54, tr.529] “biết ta như thế này, thà đừng sinh ra – tri ngã như thử, bất như vô sinh” [54, tr.1316] Thực chất, sự xuất hiện những tầng lớp mới, những mâu thuẫn về lợi ích giai cấp, những cuộc chiến tranh tàn bạo và quyết liệt nêu trên là những biểu hiện về mặt xã hội mang tính tất yếu khách quan của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc đại diện cho phương thức sản xuất cũ đã lỗi thời để giải phóng lực lượng sản xuất, tiến nhập vào xã hội phong kiến phân quyền đại diện cho phương thức sản xuất mới mới manh nha.
Trong bối cảnh đó, luân lý, đạo đức xã hội rơi vào tình trạng băng hoại, khủng hoảng sâu sắc. Mọi giá trị, chuẩn mực, đạo đức bị đảo lộn, trật tự, kỷ cương xã hội ngày thêm rối loạn, thiết chế chính trị, lễ nghĩa nhà Chu bị vi phạm và phá hoại nghiêm trọng. Đây được coi là thời kỳ “Lễ hoại nhạc tan”, cảnh bề tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng bất hòa, chia lìa thường xuyên xảy ra, Thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự, lễ nghĩa, cương thường của xã hội bị đảo lộn, các mối quan hệ giữa con người với con người bị biến dạng. Cho đến thời điểm này thì cảnh chia ly không chỉ dừng lại trong gia đình mà đến cả đất nước vì “ngũ luân” không còn được coi trọng như trước nữa.
Khi nhận định về vấn đề này, Khổng Tử cho rằng, sự biến đổi của trật tự lễ nghĩa nhà Chu đã diễn ra từ rất lâu chứ không phải là mới bắt đầu. Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử nói về thời kỳ này rằng, “Thiên hạ loạn lạc như nước chảy cuồn cuộn, khắp nơi đều như thế, còn mong cùng người nào làm thay đổi đây?” [14, tr.646] Trong khi chế độ tông pháp đã tỏ ra quá lạc hậu với thời đại như vậy, thì những cơ sở cho sự định hình thể chế của xã hội mới lại chỉ mới manh nha. Giữa cái cũ và cái mới, không cái nào đủ sức đại diện chân chính cho lịch sử. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bị trói buộc trong trạng thái “giao thời” đó, các chuẩn mực, giá trị xã hội hầu như không được định hình.
Xã hội Trung Quốc vào thời kỳ này trở nên hết sức rối ren, chiến tranh, thiên tai, lũ lụt… thường xuyên xảy ra, một bên là sự khốn cùng của tầng lớp lao động nghèo với một bên là sự giàu có của tầng lớp phong hầu kiến địa. Nhân dân thường xuyên phải sống trong cảnh đói rét, khổ đau. Trong khi đó, thế lực cầm quyền luôn tìm cách để gây thanh thế, cho nên thường xuyên diễn ra các cuộc chiến tranh. Dường như, trong tiếng kêu than của tầng lớp nhân dân lao động nghèo đó đã tiếp thêm sức mạnh cho nhiều nhà tư tưởng cùng với những học thuyết của mình ra đời với mong muốn sẽ đưa họ thoát khỏi kiếp trâu ngựa, xây dựng một đất nước thái bình, thịnh trị như mong muốn, khát khao của rất nhiều người.