CHƯƠNG 1 TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986 1. Tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật tiểu thuyết 1. Khái lược về tư duy nghệ thuật Trong thực tiễn sáng tác, mỗi thể loại văn học đòi hỏi một kiểu tư duy nghệ thuật phù hợp với những đặc trưng cơ bản của thể loại đó. Theo đấy, tư duy nghệ thuật “là dạng thức hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật” [22, tr.
Điều này có nghĩa, tư duy nghệ thuật chính là tiền đề cho sự hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và tư tưởng thẩm mĩ của chủ thể sáng tạo trong hành trình sáng tạo nghệ thuật. Về bản chất, tư duy nghệ thuật là quá trình nhận thức của chủ thể được kích hoạt trong những trường thẩm mĩ nhất định. Ở đó, tính năng khu biệt hoá cho mỗi kiểu tư duy sẽ phân tầng thành các dạng thức cụ thể như: tư duy hành động – trực quan; tư duy hình tượng – cảm tính; tư duy khái niệm lôgíc. Trong đó, tư duy hành động – trực quan có vai trò kết nối trực tiếp với hiện thực trên cơ sở thực tiễn.
Trong ba hình thái tư duy trên, tư duy hình tượng – cảm tính cho phép người nghệ sĩ cùng một lúc vừa phát hiện được khách thể, vừa bộc lộ thái độ của chủ thể. Bên cạnh đó, tư duy nghệ thuật được hiện thực hoá qua trục hư cấu, tưởng tượng có thể kiến tạo nên cả một thế giới sống động, tác động mãnh liệt tới người đọc. Điều này cũng có nghĩa trong tư duy nghệ thuật không phải chỉ có tư duy hình tượng, mặc dù tư duy hình tượng là một kiểu tư duy nghệ thuật. Song, quá trình “hư cấu với sự tham gia tích cực của cá tính sáng tạo đã làm cho tư duy nghệ thuật khác hẳn tư duy hình tượng cảm tính thông thường” [32, tr.
Hoạt động này được chuyên môn hóa trong trường thể loại sẽ tạo thành những đặc trưng nghệ thuật mang tính đặc thù. Đây chính là quá trình chuyển hóa giữa chủ thể và khách thể diễn ra trên trục tư duy nghệ thuật và tư duy hình tượng. Như vậy, cùng với các loại tư 9 duy khác như: thể nghiệm/ trực giác/ lôgíc đa trị mơ hồ/ hư cấu, tư duy nghệ thuật là một phương thức chính yếu, xâu chuỗi các hoạt động diễn ra trong tinh thần chủ thể sáng tạo, không ngoài mục đích là hiện thực hoá các phạm vi hiện thực thành thành thế giới nghệ thuật. Về tính năng hoạt động của duy nghệ thuật được biểu hiện qua các cấp độ hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, huyền thoại.
Cơ sở của nó là tình cảm. Đây là một dạng hoạt động chuyên môn hóa – ghi dấu nhận thức của chủ thể trong tái hiện và tái tạo hiện thực. Như vậy, từ thể nghiệm – liên tưởng – trực giác – hư cấu còn là chất xúc tác cho chuỗi hoạt động tư duy nghệ thuật hoạt nhất trong các trường thẩm mĩ. Tính chất này giúp cho chủ thể sáng tạo thẩm mĩ xây dựng giả thiết và làm sáng rõ các vấn đề còn bị che khuất của thực tại, tạo ra các “khoảng trống” cho văn bản.
Với tính năng hoạt động “bậc cao”, tư duy nghệ thuật gắn với năng lực sở trường để lưu giữ bản chất của đối tượng qua những dấu hiệu phát sinh đồng thời, đặc biệt phát hiện qua các mối liên hệ mới trong trường liên tưởng. Nhờ khả năng biểu hiện này mà tư duy nghệ thuật có thể khắc phục sự hạn hẹp những vấn đề lý tính để nắm bắt được sự vật, hiện tượng ở mọi chiều kích, thậm chí cả những dạng thức “mơ hồ”, cảm tính trong nhiều khu vực tiếp xúc của hiện thực đời sống. Tuy nhiên tính độc đáo của tư duy nghệ thuật là mang lại sự kết nối giữa cảm xúc và lý trí. Do vậy, mỗi tác phẩm nghệ thuật – sản phẩm của sáng tạo – là dấu chỉ giữa người nghệ sĩ và người thưởng thức.
Ở đó, chủ thể sáng tạo sử dụng tư duy nghệ thuật để thể hiện suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng của mình. Theo đó, tính năng hoạt động đặc thù của duy nghệ thuật luôn là hiệu ứng tích cực cho sự xuất hiện các sản phẩm nghệ thuật thường mang nhiều giá trị lan tỏa và có những ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội. Về đặc tính sáng tạo của tư duy nghệ thuật được tham chiếu qua trường năng lực của chủ thể. Một là là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn dụ.
Trên cơ sở đó, chủ thể sáng tạo sinh thành mối quan hệ mang tính tư tưởng nghệ thuật. Tư duy nghệ thuật chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng – từ cách cảm nhận đến sự nhạy bén trong lựa chọn, khám phá đối tượng thẩm mĩ. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất của tư duy nghệ thuật chính là sự sáng tạo. Tức khả năng kiến tạo và giải kiến tạo – sẽ đem đến một lối trình hiện các tầng cấu trúc cho văn bản.
Như thế, mỗi chủ thể sáng tạo phải là một nghệ sĩ đích thực, thâu nhận thế giới theo cách riêng. Hai là, đặc tính sáng tạo của tư duy còn 10 biểu hiện ở cách tạo lập mã – thông qua cơ chế kí hiệu hoá. Do đó, điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật là là trí tuệ kích hoạt trong diện trường kinh nghiệm thẩm mĩ, là hệ thống hóa các kết quả nhận thức của mỗi chủ thể nghệ thuật. Ba là, tính sáng tạo của tư duy nghệ thuật còn được thể hiện ở cả tầng ý thức – tiềm thức – vô thức.
Cơ chế này chi phối toàn bộ quá trình tư duy của chủ thể sáng tạo. Nó khởi phát trên trục tư duy hình tượng và tiệm cận cấp độ cao thuộc về biểu tượng – khâu liên quan chặt chẽ nhất với trực giác. Bốn là, tính sáng tạo của tư duy nghệ thuật mang tính tương tác giữa các kiểu tư duy. Bởi lẽ, mối liên kết của tư duy nghệ thuật và các loại hình tư duy khác đều xen kẽ một cách chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau, góp phần gợi mở sự sáng tạo trong lối tư duy, từ đó tạo nên cái nhìn khách quan, đa chiều hơn về thế giới xung quanh.
Năm là, tính sáng tạo của tư duy nghệ thuật là phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng. Theo đó, tư duy hình tượng là cơ sở quan thiết của tư duy nghệ thuật. Có thể tư duy chia làm ba bình diện khác nhau: tư duy hành động – trực quan/ tư duy hình tượng – cảm tính/ và tư duy khái niệm – lôgíc. Trong đó tư duy hình tượng cảm tính đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đối với khách thể trên cơ sở nghe, nhìn, tưởng tượng.
Tư duy hành động trực quan không cần tái hiện lại khách thể. Bởi vậy, nói tư duy duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật là nói đến ba loại tư duy hành động – trực quan, hình tượng – cảm tính và khái niệm – lôgic xuyên thấm vào nhau. Vai trò chủ đạo của tư duy hình tượng trong tư duy nghệ thuật, cho nên khi thu nạp những yếu tố của các loại tư duy khác, đều phải qua sự sàng lọc, cải tiến, bổ sung, liên kết, tạo cho được một loại tư duy mang tính chỉnh thể, mở ra những khả năng tối đa cho việc xây dựng những hình tượng sinh động và sâu sắc về cuộc đời muôn mặt. Tựu trung, hình tượng nghệ thuật là thành quả của tư duy sáng tạo có định hướng của nghệ sỹ.
Là một kí hiệu thẩm mỹ đặc biệt. Tính kí hiệu hóa này là sự cô đọng của những thông điệp cốt lõi mà người nghệ sĩ muốn truyền tải ở nhiều góc độ khác nhau. Cái làm nên sự độc đáo văn chương là ở chỗ hướng đến cái tôi, cái cá nhân, cái duy nhất vì vậy cần thực sự say mê tìm tòi và sáng tạo thì cái tài hoa của người nghệ sĩ mới thực sự ghi dấu trong nhiều không gian thẩm mĩ của tác phẩm. Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu, phân tích những thuộc tính, bản chất của tư duy nghệ thuật, chúng tôi đi đến cách hiểu: tư duy nghệ thuật là những biểu hiện về nhận thức của chủ thể thẩm mĩ trên cơ sở khám phá, đối thoại với khách thể thẩm mĩ.
Đối 11 tượng của tư duy nghệ thuật là hiện thực thẩm mĩ. Hình thức tồn tạo của tư duy nghệ thuật gắn liền với cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Nói một cách khác, tư duy nghệ thuật là dạng thức hoạt động của nhận thức mang tính đặc thù của chủ thể sáng tạo và tiếp nhận. Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Bakhtin từng nhận định “mỗi một thể loại thể hiện một thái độ thẩm mĩ đối với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con người”[7,tr.
Theo đó, ở địa hạt văn chương, quá trình lí giải thế giới luôn tựa dẫn ở cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Vì thế hoạt động nhận thức này gắn liền với tính năng thể loại và chịu sự quy chiếu một kiểu tư duy nghệ thuật nhất định. Tiểu thuyết công bằng mà nói là một thể loại phức tạp. Bởi nó là một thể loại lớn, có khả năng phản ánh bao quát hiện thực đời sống, hoàn toàn có khả năng tái hiện bức tranh đời sống xã hội mà không bị giới hạn không gian, thời gian, toàn bộ những vấn đề về con người, về thân phận con người được khám phá trên nhiều bình diện.
Thêm vào đó, bản thân tiểu thuyết là một thể loại chưa hoàn kết, và liên tục có những biến đổi, dung chứa trong nó nhiều thể loại khác. Vừa lấn át thể loại này, vừa không ngừng thu hút thể loại kia vào trong cấu trúc của mình. Hơn nữa, nuôi dưỡng tiểu thuyết là thời đại xã hội mới, mà đối tượng phản ánh của tiểu thuyết là cái hôm nay là hiện thực chưa hoàn thành. Vậy nên nghiên cứu về tư duy tiểu thuyết, buộc người nghiên cứu phải xem xét trong mối tương quan với các thể loại khác.
Nói về tư duy thơ, tư duy thơ chính là sự tập trung sáng tạo hình tượng của cái tôi trữ tình. Cái đáng quan tâm là cảm xúc, là tình cảm của chủ thể trữ tình. Ngôn ngữ vừa là phương tiện, vừa là đối tượng của tư duy. Bởi thơ luôn phản ánh những tình cảm, là tư duy thời đại.