Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trong Cộng đồng kinh tế ASEAN, tự do di chuyển lao động là một trong các thành tố cốt lõi của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN bên cạnh tự do di chuyển hàng hóa, tự do di chuyển dịch vụ, tự do di chuyển vốn và tự do hóa đầu tư. Giữa các thành tố này có mối quan hệ tác động qua lại, bổ trợ cho nhau vì đây là các yếu tố của sản xuất cho nên AEC chỉ thực sự “hiện hữu” khi các quốc gia thành viên ASEAN thực hiện đầy đủ cả 05 yếu tố trên. Như vậy, tự do di chuyển lao động đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình hội nhập sâu và rộng hơn của ASEAN nói chung và hội nhập kinh tế ASEAN nói riêng. Trong phạm vi chương này, tác giả tiếp cận các công trình nghiên cứu về tự do di chuyển lao động trong ASEAN theo 03 nhóm vấn đề sau: i) Các nghiên cứu về những vấn đề lý luận về tự do di chuyển lao động ASEAN; ii) Các nghiên cứu về những vấn đề pháp lý về tự do di chuyển lao động ASEAN và iii) Các nghiên cứu về thực tiễn thực hiện cam kết về tự do di chuyển lao động trong khuôn khổ ASEAN của một số quốc gia thành viên và Việt Nam.
Các nghiên cứu về những vấn đề lý luận về tự do di chuyển lao động trong ASEAN 1. Các nghiên cứu về khái niệm tự do di chuyển lao động quốc tế, tự do di chuyển lao động nội khối và tự do di chuyển lao động trong ASEAN Trong cuốn sách “Quan hệ kinh tế quốc tế”,3 thay vì đưa ra một định nghĩa cụ thể về xuất nhập khẩu lao động, tác giả Võ Thanh Thu đã liệt kê các đặc điểm của hoạt động này như sau: người lao động ra nước ngoài làm việc; lý do ra nước ngoài làm việc vì mục đích kinh tế; sau thời hạn lao động ở nước ngoài, người lao động trở về đất nước của mình. Tác giả cũng phân loại các hình thức xuất nhập khẩu lao động căn cứ trên các tiêu chí khác nhau bao gồm tiêu chí cách thức đưa người lao động ra nước ngoài, tiêu chí trình độ lao động và địa điểm xuất khẩu lao động. Bên cạnh đó, tác giả Võ Thanh Thu phân tích vai trò của xuất nhập khẩu lao động quốc tế đối với quốc gia (nước xuất khẩu lao động và nước nhập khẩu lao động) và người lao động.
Cụ thể, đối với nước xuất khẩu lao động hoạt động xuất nhập khẩu lao động góp phần giải quyết nạn thất nghiệp; tăng thêm nguồn thu ngoại 3 Võ Thanh Thu (2008), Quan hệ kinh tế quốc tế, Nxb. Thống kê, Hà Nội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tệ; cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; góp phần chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, từ đó thắt chặt tình hữu nghị đoàn kết giữa các quốc gia; là hình thức đào tạo thực tế kỹ năng, nghiệp vụ cho người lao động ở nước ngoài. Trong khi đó, đối với nước nhập khẩu lao động sẽ giúp giải quyết nạn thiếu hụt nhân công, chuyên gia để phát triển kinh tế; tăng áp lực giảm chi phí lương nhờ đó giảm chi phí kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hóa, dịch vụ; góp phần nâng cao mức sống của nhân dân; giảm chi phí đào tạo mà vẫn có nhân lực cấp cao góp phần thúc đẩy phát triển công nghệ, công tác đào tạo của nước sở tại.
Cuốn sách “Di chuyển lao động quốc tế”,4 dưới góc độ kinh tế tác giả Nguyễn Bình Giang chỉ ra rằng liên kết sâu hơn của nền kinh tế thế giới và sự phát triển của liên kết kinh tế thị trường đã tạo nên thị trường lao động toàn cầu nơi cung và cầu về lao động tương tác lẫn nhau. Tác giả cũng nêu lên thực tế hiện nay chưa có cơ chế toàn cầu được thiết lập nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho di chuyển lao động quốc tế. Mặc dù phương thức hiện diện thể nhân (Mode 4) được quy định bởi Hiệp định chung về thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nhưng bị đánh giá là có tham vọng về quy mô nhưng “lờ mờ” về định nghĩa và còn nhiều điểm hạn chế. Bởi vậy hiện nay thị trường lao động các nước sẽ được tích hợp lại thông qua thương mại và đầu tư.
Ngoài ra, các cơ chế ở cấp độ song phương (ví dụ như thoả thuận lao động song phương, thoả thuận song phương về công nhận bằng cấp, chứng chỉ) và khu vực (ví dụ như cách thức quản trị di chuyển tự do của Liên minh châu Âu, tạo điều kiện cho việc di chuyển những kỹ năng thuộc Cộng đồng các quốc gia Carribe) được thành lập nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lao động giữa các quốc gia được tự do di chuyển. Như vậy, khác với tác giả Võ Thanh Thu, tác giả Nguyễn Bình Giang trong cuốn sách về “Di chuyển lao động nội khối” đã không hướng tới xây dựng một định nghĩa cụ thể về di chuyển lao động quốc tế, chỉ ra các đặc điểm của hiện tượng này mà tập trung lý giải di chuyển lao động quốc tế từ một lát cắt là quá trình hội nhập kinh tế sâu và rộng kéo theo sự tương tác giữa cung và cầu về việc làm và dẫn tới hiện tượng di chuyển lao động quốc tế. Các tác giả Flavia Jurje và Sandra Lavenex, trong bài viết “ASEAN Economic Community: What model for labor mobility?”5 (tạm dịch là Cộng đồng kinh tế ASEAN: Mô hình nào cho dịch chuyển lao động?) đã liên hệ di chuyển lao động trong ASEAN với di chuyển lao động tại một số khu vực trên thế giới mà bản 4 Nguyễn Bình Giang (2011), Di chuyển lao động quốc tế, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
(2015), ASEAN Economic Community: What model for labor mobility?, Swiss National Centre of Competence in research, Working Paper No. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 chất là sự kế thừa và phát triển từ tự do di chuyển thương mại dịch vụ được thể chế hóa ở cấp độ đa phương bởi Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO thông qua Mode 4 như Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Liên minh châu Âu (EU) để làm rõ tự do di chuyển lao động ASEAN. Đối với EU, tự do di chuyển lao động (free movement of workers) là một trong những thành tố cơ bản của Thị trường đơn nhất châu Âu cùng với tự do di chuyển vốn, tự do di chuyển hàng hóa và tự do di chuyển dịch vụ. Theo các tác giả, các rào cản về tự do di chuyển lao động trong khu vực được “nới lỏng” dần từ chỗ các biện pháp phân biệt đối xử dựa trên yếu tố quốc tịch áp dụng đối với người lao động là công dân của quốc gia thành viên về việc làm, tiền lương và các điều kiện làm việc khác phải xóa bỏ theo quy định của Hiệp ước Rome tới tự do di chuyển lao động hoàn toàn lần đầu tiên được ghi nhận tại Định ước châu Âu đơn nhất 1987 (SEA).
Theo đó, tự do di chuyển lao động được áp dụng đối với hai nhóm chủ thể: Công dân của các quốc gia thành viên EU và gia đình họ, công dân của nước thứ ba nhưng ký kết các thoả thuận thương mại với EU và trong đó có những điều khoản quy định EU trao cho công dân của các quốc gia đó được hưởng các quyền như những người lao động mang quốc tịch của các quốc gia thành viên EU. Trong khi đó NAFTA được ký kết vào năm 1994 bởi Mexico, Canada và Hoa Kỳ dành Chương 16 quy định về tiêu chuẩn và thủ tục nhập cảnh tạm thời đối với cá nhân kinh doanh. Cá nhân kinh doanh bao gồm 04 nhóm chủ thể: khách kinh doanh (business visitors), thương nhân và nhà đầu tư (traders and investors), người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp (intra-company transferees) và chuyên gia (professionals). Khác với quy định của GATS về Mode 4, những cá nhân kinh doanh không chỉ trong lĩnh vực dịch vụ mà còn liên quan đến các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và sản xuất.
Ngoài ra, tại Chương 6 có những điều khoản quy định về hoạt động công nhận bằng cấp chứng chỉ giữa ba nước thành viên của NAFTA - một công cụ cơ bản và quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trên được tự do di chuyển trong khối. Các tác giả nhận định rằng các quy định của NAFTA về nhập cảnh tạm thời đối với cá nhân kinh doanh góp phần hài hòa hóa dòng di chuyển thương mại, tăng tính minh bạch hóa và thúc đẩy tự do di chuyển chuyên gia trong một số lĩnh vực quan trọng. So sánh tự do di chuyển lao động giữa ASEAN với NAFTA và EU, hai tác giả Flavia Jurje và Sandra Lavenex bình luận rằng trong khi dòng di chuyển lao động của NAFTA và ASEAN trực tiếp liên quan tới thương mại, thì EU có cách tiếp cận rộng hơn về di chuyển lao động. Đối với ASEAN, tự do di chuyển lao động chỉ được áp dụng đối với một số loại lao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 động đã được lựa chọn (lao động có kỹ năng trong một số ngành nghề dịch vụ, lao động không có kỹ năng không thuộc phạm vi điều chỉnh bởi các quy định của ASEAN về tự do di chuyển lao động) với các hạn chế tiếp cận thị trường, nhập cảnh tạm thời và di chuyển nội khối không vượt quá quy định về Mode 4 của GATS.
Như vậy các tác giả đã chỉ ra được mô hình về di chuyển lao động trong ASEAN trong sự đối sánh với mô hình của EU và NAFTA, tuy nhiên những phân tích về mô hình di chuyển lao động của ASEAN còn ở mức sơ lược mà chưa luận giải được những ưu điểm và hạn chế của mô hình này. Trong luận án tiến sĩ “Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN”,6 tác giả Đào Thị Thu Trang tiếp cận từ định nghĩa khối kinh tế khu vực để xây dựng định nghĩa về di chuyển lao động nội khối. Các khối kinh tế khu vực được hình thành từ liên kết kinh tế giữa các nước nằm trong một khu vực địa lý từ quá trình phát triển tự nhiên của thị trường hoặc từ những thoả thuận chủ động của chính phủ các quốc gia.