Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm tổ chức Tổ chức là một hoạt động xã hội, một trong những loại hình lao động quan trọng trong các hoạt động của con người. Do cách tiếp cận khác nhau nên việc mô tả, giải thích có thể khác nhau nhưng về bản chất đều hướng tới làm rõ lý luận, thực tiễn và các kỹ thuật làm cơ sở cho hoạt động tổ chức.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng ta từ lâu đã khẳng định vị trí, vai trò của tổ chức và công tác tổ chức trong sự phát triển của xã hội và con người. Qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Nga, V.Lênin đã rút ra kết luận: “Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức” và khi đã giành được chính quyền, toàn bộ nhiệm vụ của đảng cầm quyền là “…tổ chức, tổ chức và tổ chức”. Lê Duẩn đã từng định nghĩa: “Tổ chức, nói rộng ra là cơ cấu tồn tại của sự vật, hiện tượng. Sự vật và hiện tượng không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung.
Tổ chức, vì vậy, là thuộc tính của bản thân các sự vật và hiện tượng” [13, tr. Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định. Định nghĩa trên có ý nghĩa rất sâu sắc, bao quát cả phần tự nhiên và xã hội loài người. Trong xã hội loài người có con người (cộng đồng) là có tổ chức.
Vì vậy, có thể nói tổ chức là hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân, tập thể) nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của các thành viên, cùng nhau hành động vì lý tưởng, mục tiêu chung. Công tác tổ chức là những việc làm để tập hợp nhiều người lại với nhau, xây dựng cơ cấu bộ máy làm việc, định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách 14 nhiệm của từng người, từng bộ phận trong tổ chức, đề ra chương trình, kế hoạch và cách thức hành động của các thành viên, để tổ chức hoạt động được nhịp nhàng, ăn khớp với nhau và đạt hiệu quả… Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác. Vì vậy,việc xác định vai trò, nhiệm vụ là chức năng tổ chức trong quản lý. Vai trò của một bộ phận hay một cá nhân bao hàm bộ phận hay cá nhân đó hiểu rõ công việc mình làm nằm trong một phạm vi nào đó, nhằm mục đích hoặc mục tiêu nào, công việc của họ ăn khớp như thế nào với các cá nhân hoặc bộ phận khác và những thông tin cần thiết để hoàn thành công việc.
Như vậy, tùy theo cách tiếp cận và quan điểm khác nhau, người ta có thể đưa ra các khái niệm khác nhau, nhưng về bản chất tổ chức hoạt động là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống của chủ thể tổ chức lên đối tượng tổ chức thông qua việc lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra các hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã định. Tổ chức hoạt động bao giờ cũng là tổ chức hoạt động của một hệ, một đơn vị cụ thể; trong tổ chức hoạt động bao giờ cũng có các thành phần: chủ thể tổ chức, mục tiêu tổ chức và đối tượng tổ chức; về bản chất, là cách thức tác động (triển khai, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật khách quan của chủ thể tổ chức, nhằm làm cho các công việc, nhiệm vụ đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đề ra. Tổ chức hoạt động có các chức năng cơ bản: Thứ nhất, chức năng lập kế hoạch: là một quá trình từ việc xác định mục tiêu và hoạch định các biện pháp thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Thứ hai, chức năng tổ chức: là đảm bảo tất các các hoạt động và các tiến trình được sắp xếp, giúp cho một tổ chức có thể đạt được các mục tiêu đề ra.
Thứ ba, chức năng lãnh đạo, điều khiển: là việc thực hiện các công việc lãnh đạo, điều hành, dẫn dắt, hỗ trợ của các nhà 15 quản lý đối với các nhân viên trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu trong kế hoạch đã được xác lập. Thứ tư, chức năng kiểm tra: là việc thiết lập được các tiêu chuẩn, quy trình kiểm tra, đo lường và phân tích các kết quả các nhà quản lý xác định được là tổ chức có đạt được các mục tiêu đề ra hay không, và có được liên kết chặt chẽ với việc lập kế hoạch hay không, và nếu không đạt được thì phải cải thiện việc thực hiện nhằm tăng cơ hội đạt được mục tiêu. Khái niệm tự đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo Để có cơ sở tìm hiểu về tự đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo, thì cũng cần làm rõ một số vấn đề về kiểm định chất lượng. Bởi lẽ, tự đánh giá là một khâu, một nhiệm vụ của quá trình kiểm định chất lượng giáo dục.
Kiểm định chất lượng giáo dục trường là hoạt động đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định đối với trường ở từng trình độ đào tạo. Kiểm định chất lượng là một hệ thống tổ chức và biện pháp để đánh giá và công nhận chất lượng đào tạo và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo theo các chuẩn mực được quy định. Nói cách khác, đó là quá trình đánh giá bên ngoài dựa vào kết quả tự đánh giá của cơ sở giáo dục đại học hay ngành đào tạo để công nhận mức độ đáp ứng mục đích, mục tiêu đào tạo của cơ sở đó. Thực chất của kiểm định là: Chứng nhận cơ sở đào tạo đạt được những tiêu chuẩn cơ bản về nguồn lực và các chỉ số chất lượng.
Là sự bảo đảm với công chúng rằng cơ sở đào tạo đạt được những chuẩn mực chất lượng cơ bản. Những chương trình đào tạo và cơ sở đào tạo đạt chuẩn sau khi kiểm định sẽ được thông báo công khai cho người học, người sử dụng lao động và toàn xã hội như một bằng chứng bảo đảm cho chất lượng đào tạo của các cơ sở và các chương trình đào tạo đó. Việc kiểm định chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo có nội dung quan trọng là đánh giá hệ thống quản lý chất lượng của cơ sở đó và chứng minh được rằng hệ thống quản lý chất lượng là có hiệu 16 quả. Mục đích của kiểm định chất lượng không chỉ là đảm bảo nhà trường có trách nhiệm đối với chất lượng đào tạo mà còn mang lại động lực cải tiến và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo cũng như chất lượng toàn trường.
Đặc trưng của kiểm định chất lượng là có thể được tiến hành ở phạm vi trường hoặc chương trình đào tạo. Đây là một hoạt động hoàn toàn tự nguyện. Kiểm định chất lượng không thể tách rời công tác tự đánh giá. Các chuẩn mực đánh giá rất mềm dẻo và được biến đổi cho phù hợp với sự mệnh của từng trường.
Kiểm định chất lượng cấp trường và kiểm định chương trình không chỉ tập trung đánh giá các yếu tố đầu vào mà còn tập trung vảo cả quá trình đào tạo và chất lượng học viên khi ra trường. Trong kiểm định chất lượng giáo dục, quy trình diễn ra bao gồm các bước: Một là, tự đánh giá. Hai là, đánh giá ngoài. Ba là, chứng nhận và công bố kết quả kiểm định.
Trong đó, tự đánh giá (self-evaluation) là khâu đầu tiên trong tổng thể các hoạt động kiểm định chất lượng. Tự đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo còn gọi là đánh giá trong, là hoạt động đánh giá nội bộ do tập thể nhà trường thực hiện theo những quy trình và nội dung có tính chuẩn mực. Tự đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo là một phần, một khâu của quá trình đánh giá, cùng với đánh giá ngoài tạo nên đánh giá hoàn chỉnh. Tự đánh giá là nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ sở đào tạo trong quá trình hình thành, phát triển, nó được thực hiện trong quá trình tổ chức kiểm định các cơ sở đào tạo đại học theo chủ trương, chính sách, kế hoạch triển khai của cơ quan có thẩm quyền.
Từ kết quả nghiên cứu các tài liệu, các văn bản pháp quy về công tác kiểm định chất lượng ở các nhà trường đại học, có thể hiểu: Tự đánh giá là quá trình các nhà trường đại học căn cứ vào bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục để tiến hành tự xem xét, nghiên cứu và báo cáo về tình trạng chất lượng, hiệu quả các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, từ đó điều 17 chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo đã đề ra. Tự đánh giá có ý nghĩa quan trọng bởi vì nó chứng tỏ nếu nhà trường làm được việc này là nhà trường có ý thức và khả năng thực hiện tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của mình trong toàn bộ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và dịch vụ xã hội theo chức năng mà cấp trên và xã hội giao cho nhà trường. Tự đánh giá đòi hỏi tính khách quan, trung thực và công khai. Các giải thích, nhận định, kết luận đưa ra trong quá trình tự đánh giá phải dựa trên các thông tin, minh chứng cụ thể, rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy.
Báo cáo tự đánh giá phải bao quát đầy đủ các tiêu chí trong tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nhà trường. Mục đích của tự đánh giá là làm rõ thực trạng quy mô, chất lượng và hiệu quả các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và dịch vụ xã hội theo chức năng, nhiệm vụ của nhà trường và phù hợp với tôn chỉ mục đích và sứ mạng của nhà trường trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.