Tổng quan luận án

Công tác đánh giá cán bộ nói chung và đánh giá giảng viên nói riêng là khâu trọng yếu trong công tác cán bộ, giữ vai trò làm căn cứ để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ. Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tiêu biểu là Quy định số 124-QĐ/TW ngày 04-10-2023 về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị (thay thế Quy định số 132-QĐ/TW ngày 08-3-2018). Tuy nhiên, trên thực tế, công tác đánh giá cán bộ vẫn được nhìn nhận là khâu yếu, có lúc chưa phản ánh đúng thực chất năng lực và phẩm chất của cán bộ.

Tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có 2.112 người, trong đó giảng viên cơ hữu là 959 người (chiếm khoảng 45%). Giảng viên là lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy lý luận chính trị và nghiên cứu khoa học. Từ năm 2017 đến nay, công tác đánh giá giảng viên tại Học viện đã từng bước đi vào nền nếp, song vẫn bộc lộ những hạn chế như: việc quán triệt quy định có nơi chưa đầy đủ, quy trình thực hiện tại một số đơn vị chưa chặt chẽ, còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm, và kết quả đánh giá chưa thực sự tạo chuyển biến vững chắc cho công tác phát triển đội ngũ. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay" mang tính cấp thiết về cả lý luận và thực tiễn.

Luận án xác định mục đích nghiên cứu là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường công tác đánh giá giảng viên của Học viện đến năm 2030. Để thực hiện mục đích này, tác giả giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình khoa học ngoài nước và trong nước liên quan đến đề tài luận án, đánh giá kết quả đạt được và chỉ ra những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay.
  3. Đánh giá thực trạng công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; chỉ ra các nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm.
  4. Dự báo những yếu tố tác động, đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường công tác đánh giá giảng viên của Học viện đến năm 2030.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Bao gồm Trung tâm Học viện tại Hà Nội, các Học viện Chính trị khu vực (I, II, III, IV) và Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Đối tượng giảng viên được khảo sát là giảng viên cơ hữu (bao gồm cả giảng viên và tập sự giảng viên), không nghiên cứu giảng viên thỉnh giảng.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2017 (thời điểm Giám đốc Học viện ban hành Hướng dẫn về đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức và người lao động) đến thời điểm nghiên cứu; các phương hướng và giải pháp đề xuất có giá trị vận dụng thực tiễn đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm nội dung:

Các công trình khoa học ngoài nước

  • Nhóm nghiên cứu về đánh giá cán bộ, công chức: Mei Jixia (2012) nghiên cứu hệ thống đánh giá hiệu quả công việc của công chức dựa trên 5 nội dung (đạo đức, khả năng, sự siêng năng, hiệu suất và tham nhũng), ứng dụng công nghệ số và phương pháp đánh giá 360 độ; Dương Chí Bân (2021) nghiên cứu cơ chế kiểm tra, đánh giá cán bộ tại thành phố Vu Hồ, tỉnh An Huy (Trung Quốc) nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; Chu Hiểu Hân và Vương Thạc (2021) vận dụng lý thuyết tự trình bày của Goffman để xây dựng mô hình đánh giá đa góc độ đối với cán bộ trẻ ưu tú (tự đánh giá, đánh giá chuyên gia, đánh giá của tổ chức, đánh giá của cơ sở đào tạo).
  • Nhóm nghiên cứu về đánh giá giảng viên: Kelly O'Brien (2014) nghiên cứu chuyển đổi hệ thống đánh giá giảng viên thông qua tích hợp công nghệ thông tin; Fajar Masya, Hendra Prastiawan và Destriyani Putri (2017) đề xuất áp dụng phương pháp Elimination et Choix Traduisant la Realite (electer) tại Đại học Mercu để tối ưu hóa việc đánh giá của sinh viên; Yimer Amedie Muhie cùng các cộng sự (2020) nghiên cứu hệ thống giám sát và đánh giá bài giảng dựa trên web (LEMS) tại Đại học Assosa (Ethiopia); Chung Chi Dương, Lữ Na, Cao Quế Quyên (2022) phân tích hệ thống chỉ tiêu đánh giá giảng viên tại 4 trường đại học của Mỹ theo 3 trụ cột (giảng dạy, nghiên cứu khoa học và dịch vụ).

Các công trình khoa học trong nước

  • Về đánh giá cán bộ, công chức: Phạm Tất Thắng (2012) nghiên cứu đánh giá cán bộ cấp huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng; Nguyễn Minh Tuấn (2017) nhấn mạnh việc lượng hóa tiêu chí và phân cấp trong đánh giá, sử dụng cán bộ; Vũ Thị Ngọc Dung (2018) chỉ ra khó khăn trong lượng hóa các tiêu chí bản lĩnh chính trị và mức độ tín nhiệm của quần chúng; Đào Thị Thanh Thủy (2019) nghiên cứu đánh giá công chức theo kết quả thực thi công vụ tại Hà Nội, Đà Nẵng, Lào Cai; Nguyễn Văn Thưởng (2021) nghiên cứu đánh giá cán bộ cấp cơ sở trong các học viện, trường sĩ quan quân đội; Phạm Ngọc Hùng (2021) phân tích hạn chế do tiêu chí đánh giá chung chung; Nguyễn Chí Hiếu (2021) luận giải việc quán triệt nguyên tắc khách quan và quan điểm toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ; Nguyễn Phú Trọng (2022) trong tác phẩm về chủ nghĩa xã hội đã chỉ rõ yêu cầu đánh giá cán bộ phải công tâm, khách quan, lấy phẩm chất chính trị, đạo đức và hiệu quả công tác làm thước đo.
  • Về đánh giá giảng viên đại học: Trần Xuân Bách (2010) nghiên cứu đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hóa và ứng dụng phương pháp phản hồi 360 độ; Đinh Thị Minh Tuyết (2012) đề xuất khung tiêu chí chất lượng giảng viên gồm thể lực, trí lực và phẩm chất; Phạm Văn Thuần và Nghiêm Thị Thanh (2015) nghiên cứu đánh giá giảng viên theo năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ gắn với vị trí việc làm; Kim Thị Hạnh, Nguyễn Thị Ngát, Nguyễn Thị Thu Linh (2021) ứng dụng mô hình ASK (Attitude - Skill - Knowledge) để xây dựng khung năng lực đánh giá giảng viên; Nguyễn Thị Bích Lan (2021) nghiên cứu tạo động lực làm việc cho giảng viên trường chính trị cấp tỉnh thông qua cải tiến công tác đánh giá.
  • Về giảng viên và công tác đánh giá tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Nguyễn Văn Lượng (2013) nghiên cứu tiêu chí giảng viên trường Đảng; Ngô Thị Hải Anh (2016, 2021) nghiên cứu quản lý tạo động lực và công tác đánh giá cán bộ gắn với bình xét thi đua, khen thưởng tại Học viện; Nguyễn Thế Sang (2020) nghiên cứu công tác tổ chức cán bộ phục vụ phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về đánh giá cán bộ và đánh giá giảng viên đại học, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về công tác đánh giá giảng viên dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, nghị quyết, quy định của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị và công tác đánh giá cán bộ, viên chức (Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Quy định số 124-QĐ/TW năm 2023).

Khung khái niệm của luận án xác định: Đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là tổng thể các hoạt động của các chủ thể quản lý tiến hành xem xét, nhận định, kết luận về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của giảng viên theo nguyên tắc, tiêu chí đánh giá, xếp loại đã xác định. Công tác đánh giá giảng viên bao gồm 4 nội dung cấu thành:

  1. Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước và của Học viện về đánh giá giảng viên.
  2. Tổ chức thực hiện nội dung, hình thức, phương pháp, quy trình và nguyên tắc đánh giá giảng viên.
  3. Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện lãnh đạo, chỉ đạo sự phối hợp giữa các tổ chức, đơn vị liên quan.
  4. Tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát và sơ kết, tổng kết công tác đánh giá giảng viên.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu: Sử dụng tại các Chương 1, 2, 3 để khái quát hóa tài liệu khoa học, văn bản quy phạm và số liệu thực tế.
  • Phương pháp lịch sử và logic: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 để tái hiện quá trình phát triển của Học viện và sự hình thành các quy định đánh giá giảng viên.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Sử dụng xuyên suốt các chương để lập luận và rút ra kết luận khoa học.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Sử dụng tại Chương 3 để đánh giá công tác chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc và các cơ quan tham mưu tổ chức cán bộ.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia: Tác giả xây dựng 02 mẫu phiếu điều tra cho 03 nhóm đối tượng, thực hiện thu thập dữ liệu bằng Google Forms trong thời gian 1,5 tháng với tổng số 600 phiếu khảo sát.
Nhóm đối tượng khảo sát Số lượng phiếu Phân bổ mẫu cụ thể
Cán bộ lãnh đạo, quản lý 100 Trung tâm Học viện: 25; Học viện Chính trị khu vực I: 15; Khu vực II: 15; Khu vực III: 15; Khu vực IV: 15; Học viện Báo chí và Tuyên truyền: 15
Giảng viên 200 Trung tâm Học viện: 50; Học viện Chính trị khu vực I: 30; Khu vực II: 30; Khu vực III: 30; Khu vực IV: 30; Học viện Báo chí và Tuyên truyền: 30
Học viên 300 Lớp đào tạo giảng viên lý luận chính trị: 34; Lớp đại học chuyên ngành chính trị: 30; Lớp đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền: 30; Lớp Cao cấp lý luận chính trị: 80; Lớp Sau đại học: 70; Lớp bồi dưỡng kiến thức kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: 56
Tổng cộng 600 Toàn hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 tổng hợp các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá cán bộ, công chức và giảng viên. Tác giả phân tích các mô hình lý thuyết đã được áp dụng trên thế giới như mô hình đánh giá 360 độ, phương pháp electer, hệ thống theo dõi bài giảng LEMS và mô hình ASK. Đối với các nghiên cứu trong nước, chương này tổng kết các luận điểm về tiêu chí định lượng, vai trò của người đứng đầu và cơ chế kiểm soát quyền lực trong đánh giá cán bộ. Trên cơ sở tổng quan, tác giả xác định 3 vấn đề trọng tâm luận án tập trung giải quyết:

  1. Xác lập hệ thống lý luận về công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.
  2. Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng công tác đánh giá giảng viên của Học viện từ năm 2017 đến nay, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.
  3. Dự báo các yếu tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp tăng cường công tác đánh giá giảng viên đến năm 2030.

Chương 2: Công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Chương 2 trình bày quá trình phát triển của Học viện từ Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (thành lập tháng 01-1949 tại chiến khu Việt Bắc) đến nay. Theo Quyết định số 145-QĐ/TW ngày 08-8-2018 của Bộ Chính trị, Học viện là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đảm nhận 11 nhiệm vụ chủ yếu. Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc, 10 đơn vị chức năng, 18 viện nghiên cứu, giảng dạy, thông tin, xuất bản và 5 đơn vị trực thuộc (4 Học viện Khu vực và Học viện Báo chí và Tuyên truyền). Tính đến tháng 7-2023, tổng số cán bộ, công chức, viên chức của Học viện là 1.982 người (trong đó có 4 giáo sư, 108 phó giáo sư, 624 tiến sĩ, 881 thạc sĩ, 271 cử nhân).

Về đội ngũ giảng viên, tính đến tháng 12-2022, toàn hệ thống có 956 giảng viên (trong đó dưới 35 tuổi: 155 người, chiếm 16,2%; từ 35-50 tuổi: 569 người, chiếm 59,5%; trên 50 tuổi: 232 người, chiếm 24,3%).

Đơn vị trực thuộc Học viện Số lượng giảng viên Tỷ lệ cơ cấu (%) Tỷ lệ giảng viên trẻ có thể đứng lớp
Trung tâm Học viện (Hà Nội) 320 33,0% 10/29 (35,0%)
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 244 26,0% 73/73 (100,0%)
Học viện Chính trị khu vực II 136 14,0% 10/43 (23,2%)
Học viện Chính trị khu vực I 121 13,0% 15/41 (36,5%)
Học viện Chính trị khu vực III 83 9,0% 05/10 (50,0%)
Học viện Chính trị khu vực IV 52 5,0% 04/04 (100,0%)
Tổng cộng 956 100,0% Chênh lệch lớn giữa các đơn vị

Theo Quy định số 766-QĐ/HVCTQG ngày 02-3-2022 của Giám đốc Học viện, giảng viên phải dành ít nhất 1/3 quỹ thời gian làm việc trong năm (tương đương 586 giờ hành chính) cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Định mức giờ giảng chuẩn được giảm trừ theo chức danh quản lý: Giám đốc Học viện giảm 90% (định mức 10%); Phó Giám đốc Học viện, Bí thư Đảng ủy trực thuộc giảm 85% (định mức 15%); Trưởng, phó đơn vị chức năng giảm 80% (định mức 20%); Phó Bí thư Đảng ủy Học viện định mức 30%; giảng viên kiêm giảng không giữ chức vụ quản lý định mức 50%.

Đặc điểm đội ngũ giảng viên Học viện thể hiện qua 4 khía cạnh: hình thành từ nhiều nguồn và đa dạng về tuổi đời, tuổi nghề; có trình độ lý luận chính trị và chuyên môn cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt (yêu cầu 100% là đảng viên); thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy; đối tượng giảng dạy của giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền có tính đặc thù (đào tạo sinh viên đại học chính quy, đảm nhận thêm vai trò cố vấn học tập).

Chương 3: Công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm

Chương 3 phân tích thực trạng công tác đánh giá giảng viên từ năm 2017 đến nay dựa trên các nguồn tư liệu nội bộ và kết quả khảo sát 600 phiếu:

  • Kết quả đạt được: Công tác đánh giá được chỉ đạo thống nhất, bám sát các văn bản của Đảng và quy định của Học viện. Kết quả khảo sát 300 học viên cho thấy 93% (278/300) đánh giá tốt về phẩm chất chính trị của giảng viên; 92% (273/300) đánh giá tốt về đạo đức, lối sống, tác phong làm việc; 92% đánh giá cao trình độ chuyên môn; 89% đánh giá cao năng lực sư phạm và 86% đánh giá cao năng lực nghiên cứu khoa học.
  • Hạn chế: Việc quán triệt văn bản hướng dẫn có lúc, có nơi chưa đầy đủ; quy trình, phương pháp đánh giá ở một số đơn vị còn hình thức, chưa chặt chẽ; tính tự giác trong nhận xét, đánh giá chưa cao, còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm; kết quả đánh giá chưa thực sự trở thành động lực vững chắc cho công tác quy hoạch, điều động, bổ nhiệm cán bộ.
  • Nguyên nhân: Tiêu chí đánh giá định lượng chưa hoàn thiện; nhận thức về tầm quan trọng của công tác đánh giá ở một số cấp ủy, cán bộ quản lý và giảng viên chưa đồng đều; công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình đánh giá chưa thường xuyên.
  • Bài học kinh nghiệm: Luận án rút ra 4 bài học:
    1. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện và cấp ủy, thủ trưởng đơn vị trực thuộc là nhân tố quyết định chất lượng đánh giá.
    2. Công tác đánh giá phải xuất phát từ thực tiễn nhiệm vụ chính trị và yêu cầu công tác xây dựng Đảng của Học viện.
    3. Chấp hành nghiêm nguyên tắc, quy trình, đồng thời vận dụng linh hoạt nội dung, hình thức, phương pháp đánh giá phù hợp với từng đơn vị và điều kiện của giảng viên.
    4. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, đoàn thể và các lực lượng tham gia đánh giá.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp tăng cường công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đến năm 2030

Chương 4 dự báo các yếu tố tác động (yêu cầu đổi mới đào tạo lý luận chính trị, tác động của chuyển đổi số, yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng) và xác định phương hướng tăng cường công tác đánh giá giảng viên đến năm 2030. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp, trong đó tập trung vào 3 giải pháp trọng tâm:

  1. Cụ thể hóa, hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn giảng viên, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong Học viện để làm căn cứ đánh giá: Rà soát, chuẩn hóa các tiêu chí chuyên môn, định mức giờ nghiên cứu khoa học (586 giờ) và tiêu chuẩn ngạch chức danh phù hợp với từng hệ đào tạo.
  2. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình đánh giá giảng viên của Học viện: Đổi mới tiêu chí định lượng và định tính; kết hợp tự đánh giá, đánh giá của đồng nghiệp, phản hồi của học viên và đánh giá của cấp ủy, người đứng đầu; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập và xử lý kết quả đánh giá.
  3. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong công tác đánh giá giảng viên: Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng ủy Học viện, trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị, vai trò tham mưu của cơ quan Tổ chức - Cán bộ và sự tham gia giám sát của Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Làm rõ nội hàm khái niệm giảng viên, đánh giá giảng viên và công tác đánh giá giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.
  • Hệ thống hóa các nội dung cấu thành công tác đánh giá giảng viên trường Đảng, bao gồm: quán triệt chủ trương, quy định; tổ chức thực hiện các khâu nguyên tắc, nội dung, phương pháp, quy trình; sự phối hợp lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc; và công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phản ánh thực trạng công tác đánh giá giảng viên của Học viện từ năm 2017 đến nay qua việc khảo sát thực chứng 600 đối tượng (lãnh đạo quản lý, giảng viên, học viên).
  • Đúc rút 4 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn tổ chức đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
  • Đề xuất 3 giải pháp trọng tâm đến năm 2030 nhằm hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh, đổi mới quy trình phương pháp đánh giá và phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống Học viện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở đội ngũ giảng viên cơ hữu và tập sự giảng viên trong hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Trung tâm và 5 đơn vị trực thuộc), không khảo sát đội ngũ giảng viên thỉnh giảng và giảng viên kiêm nhiệm ngoài biên chế. Số liệu điều tra xã hội học tập trung thu thập trong khoảng thời gian 1,5 tháng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế đánh giá đối với đội ngũ giảng viên thỉnh giảng, chuyên gia kiêm nhiệm; nghiên cứu phát triển phần mềm chuyên dụng đánh giá giảng viên trường Đảng tích hợp dữ liệu giảng dạy và nghiên cứu khoa học trực tuyến; khảo sát so sánh mô hình đánh giá giảng viên lý luận chính trị giữa Học viện và hệ thống các trường chính trị cấp tỉnh.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác lãnh đạo, quản lý của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Luận án là tài liệu tham khảo cho Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc và Ban Tổ chức - Cán bộ trong việc sửa đổi, bổ sung quy chế đánh giá, xếp loại giảng viên hằng năm.
  • Đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Cung cấp khung tham chiếu về tiêu chuẩn, định mức công tác (nghiên cứu khoa học, giảng dạy) và quy trình đánh giá cho các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ sở bồi dưỡng cán bộ của các bộ, ban, ngành.
  • Đối với công tác nghiên cứu, giảng dạy: Phục vụ nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Quản lý công và Khoa học tổ chức cán bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đối tượng và phạm vi khảo sát giảng viên bao gồm những ai?

Luận án nghiên cứu công tác đánh giá đối với đội ngũ giảng viên cơ hữu (bao gồm cả giảng viên chính thức và tập sự giảng viên) công tác tại Trung tâm Học viện, các Học viện Chính trị khu vực I, II, III, IV và Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận án không nghiên cứu đối với giảng viên thỉnh giảng.

2. Quy định về định mức thời gian nghiên cứu khoa học của giảng viên Học viện là bao nhiêu?

Theo Quy định số 766-QĐ/HVCTQG ngày 02-3-2022 của Giám đốc Học viện, hằng năm giảng viên phải dành ít nhất 1/3 quỹ thời gian làm việc (tương đương 586 giờ hành chính) để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đây là tiêu chí bắt buộc khi đánh giá, phân loại giảng viên.

3. Quy mô và cơ cấu mẫu điều tra khảo sát thực tế của luận án được thực hiện như thế nào?

Tác giả đã tiến hành điều tra 600 phiếu khảo sát qua Google Forms trong 1,5 tháng, bao gồm: 100 phiếu dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; 200 phiếu dành cho giảng viên tại các đơn vị trong toàn hệ thống; 300 phiếu dành cho học viên thuộc các hệ lớp đào tạo giảng viên lý luận chính trị, đại học, cao cấp lý luận chính trị, sau đại học và bồi dưỡng kiến thức kinh điển.

4. Luận án đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để tăng cường công tác đánh giá giảng viên đến năm 2030?

Luận án tập trung vào 3 giải pháp trọng tâm: cụ thể hóa, hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn giảng viên và chức năng nhiệm vụ của các đơn vị làm căn cứ đánh giá; đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình đánh giá giảng viên; phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị trong toàn hệ thống Học viện.

Kết luận

Luận án "Công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay" là công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá giảng viên trường Đảng. Dựa trên việc phân tích số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát 600 phiếu, tác giả đã chỉ rõ thực trạng, nguyên nhân hạn chế và rút ra 4 bài học kinh nghiệm trong công tác đánh giá giảng viên giai đoạn từ năm 2017 đến nay. Công trình đề xuất hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2030 nhằm hoàn thiện tiêu chuẩn, quy trình và phát huy trách nhiệm của các chủ thể quản lý trong xây dựng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị.