Chương 1: Khái niệm tự chủ chiến lược - tự chủ chiến lược của Liên minh châu Âu: thảo luận về khái niệm TCCL, TCCL dưới góc nhìn một số lý thuyết QHQT, quá trình hình thành và phát triển của ý tưởng này và quan điểm TCCL của một số quốc gia EU. Chương 2: Tác động của xung đột Nga - Ukraine 2022 đến nhận thức và triển khai tự chủ chiến lược của Liên minh châu Âu: phân tích nguyên nhân của xung đột Nga - Ukraine từ đó đưa ra những tác động đến EU và tác động đến nhận thức và triển khai TTCL của EU từ sau khi xung đột xảy ra. Chương 3: Trở lực và triển vọng trong phát triển tự chủ chiến lược của EU dưới tác động của xung đột Nga - Ukraine: bàn luận về một số tác động tiêu cực của xung đột đến mục tiêu TTCL của EU, một số khó khăn và thách thức khác và triển vọng EU phát triển TTCL. KHÁI NIỆM TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC - TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU Trong những năm gần đây, thế giới đã và đang trải qua một thời kỳ với những chuyển biến sâu sắc, mau lẹ và khó lường.
Đặc biệt, khi mà các quốc gia đang dần hồi phục sau những tổn hại từ dịch bệnh toàn cầu COVID-19 thì xung đột quân sự Nga - Ukraine diễn ra vào tháng 2/2022 khiến thế giới một lần nữa phải đối mặt với những khó khăn và thách thức. Đi cùng với những biến động này là việc xuất hiện nhiều thuật ngữ, khái niệm cả cũ lẫn mới và trở thành khuôn mẫu trong các diễn ngôn trên thế giới. Một trong số đó là “tự chủ chiến lược” - một thuật ngữ đang dần trở thành xu hướng thời thượng và dễ dàng được tìm thấy trong các diễn ngôn chính trị ở cấp độ quốc gia cũng như trong thảo luận về QHQT. Thảo luận về Tự chủ chiến lược trong QHQT 1.
Khái niệm tự chủ chiến lược Dù xuất hiện từ sớm và có xu hướng được nhắc đến nhiều hơn gần đây, “tự chủ chiến lược" vẫn là một khái niệm còn mơ hồ và gây nhiều tranh cãi. Theo từ điển chuyên ngành Chính trị và Quan hệ Quốc tế của Oxford (The Concise Oxford Dictionary of Politics and International Relations), “tự chủ" (autonomy) hay còn có cách gọi khác là “tự trị" (self-government) loại quyền đặc biệt để có thể kiểm soát được một khu vực về quyền cai trị, con người hoặc bản thân một ai đó5. Tương tự, khi giải thích “chiến lược” (strategic), đây được coi là cách mà một chủ thể quyết định những gì họ muốn đạt được và lập kế hoạch hành động, cũng như sử dụng các nguồn lực để thực hiện mong muốn này6. Từ đó, có thể hiểu khái niệm “tự chủ chiến lược" (strategic autonomy) theo một cách đơn giản là việc một chủ thể độc lập xác định và 5 Garret W Brown, Iain McLean, and Alistair McMillan, A Concise Oxford Dictionary of Politics and International Relations, (Oxford University Press, 2018), tr 319-320.
6 Garret W Brown, Iain McLean, and Alistair McMillan, A Concise Oxford Dictionary of Politics and International Relations, tr2162. 9 thực hiện một hành động mà không có sự tham gia của bất kỳ một chủ thể nào khác. Dưới góc nhìn của quan hệ quốc tế, nhiều học giả trên thế giới tìm cách khái quát hóa định nghĩa thế nào là tự chủ chiến lược. Theo học giả người Ấn Độ S.
Kalyanraraman, tự chủ chiến lược phản ánh khả năng của một quốc quốc gia trong việc theo đuổi, triển khai chính sách đối ngoại phục vụ lợi ích quốc gia và các ưu tiên đã xác định mà không bị ràng buộc, tác động bởi bất kỳ quốc gia nào khác7. Một số học giả khác nhấn mạnh nhân tố giá trị và tiềm lực như một biểu hiện của tự chủ chiến lược. Học giả người Italia Nathalie Tocci cho rằng - tự chủ chiến lược là “việc thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược trong khi duy trì, bảo vệ được các nguyên tắc, chuẩn mực và giá trị của chính mình"8. Trong khi đó, nhóm tác giả Barbara Lippert, Nicolai von Ondarza và Volker Perthes nhận định, tự chủ chiến lược dùng để chỉ khả năng của một chủ thể trong việc định hình các ưu tiên và có đủ sức mạnh tổng hợp về thể chế, chính trị, vật chất để tự thực hiện các ưu tiên, quyết định đó mà không bị ảnh hưởng bởi bên thứ ba9.
Dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tự chủ chiến lược, theo TS. Vũ Lê Thái Hoàng và Trần Hà My10, có thể nhận thấy rằng các quan niệm về tự chủ chiến lược trong quan hệ quốc tế cho đến nay đều cơ bản nhấn mạnh các thành tố chính là: 7 S. Kayanaraman, “Aravind Devanathan asked: What is ‘strategic autonomy’? How does it help India's security?”, Ask An Expert, 20 tháng 1, 2015, https://idsa.in/askanexpert/strategicautonomy_indiasecurity 8 Nathalie Tocci, “European Strategic Autonomy: What is it? Why we need it? How to achieve it?”, Istituto Affari Internazionali, 2021, https://www.it/sites/default/files/9788893681780.pdf 9 Barbara Lippert, Nicolai von Ondarza, và Volker Perthes, “European Strategic Autonomy: Actors, Issues, Conflicts of Interests”, SWP Research Paper, tháng 3, 2019, https://www.org/publications/products/research_papers/2019RP04_lpt_orz_prt_web. Vũ Lê Thái Hoàng, Trần Hà My, “Xu hướng tự chủ chiến lược trong quan hệ quốc tế hiện nay", Tạp chí Cộng sản, 23 tháng 10, 2022, https://www.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/826033/xu-huong-tu-chu-chien- luoc-trong-quan-he-quoc-te-hien-nay.aspx 10 (1) Sự độc lập của một quốc gia về ý chí (trong việc đề ra lợi ích, mục tiêu, giá trị) và hành động (kiên định triển khai và bảo vệ các biện pháp để đạt được mục tiêu, lợi ích và giá trị đã đề ra); (2) Sự tích cực, chủ động trong triển khai đối ngoại, tập hợp lực lượng và thích ứng, định hình “luật chơi” để tạo dựng môi trường chiến lược thuận lợi nhất; (3) Tối đa hoá sức mạnh tổng hợp, trong đó nội lực đóng vai trò quyết định của một quốc gia để bảo vệ, triển khai hiệu quả các chiến lược, chính sách.
Mặt khác, học giả Vitor Bento cho rằng định nghĩa phù hợp về tự chủ chiến lược phải độc lập với hoàn cảnh hoặc lợi ích cụ thể và cần phải tính đến một số khía cạnh cấu thành sau11: (i) năng lực quyền lực12 (power capabilities); (ii) sự khan hiếm tài nguyên (scarcity of resources); (iii) tính hiệu lực và hiệu quả từ nguồn lực sẵn có để tạo ra các năng lực quyền lực (effectiveness and efficiency to generate power capabilities); (iv) hoàn cảnh xung quanh (surrounding circumstances); (v) khung thời gian (time horizon). Cũng theo Bento, chiến lược của một quốc gia bao gồm các chủ trương của nhà nước, bởi vậy, tự chủ chiến lược của một quốc gia cũng phải được hiểu trong phạm vi rộng hơn trong hành động của nước đó và trên tất cả các phương tiện - chính trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự và cả ý thức hệ - có thể được huy động để thúc đẩy lợi ích nhà nước và theo đuổi các mục tiêu mong muốn. Tự chủ chiến lược nếu khả thi sẽ mở ra nhiều sự lựa chọn trong định hướng chiến lược cho một quốc gia. Để đạt được các mục tiêu mong muốn nói chung và tự chủ chiến lược nói riêng, một quốc gia sẽ cần phụ thuộc vào: 11 Victor Bento, Strategic Autonomy and Economic Power: The Economy as a Strategic Theater, 1st ed (London: Routledge, 2022), tr65, Routledge.4324/9781003248392 12 Theo Victor Bento, Power capabilities (tạm dịch: năng lực quyền lực), nên được hiểu là các nguồn lực (vô hình và hữu hình) tạo ra quyền lực.
Tuy nhiên cũng theo Bento, khi tận dụng những nguồn lực từ các liên minh hoặc các nguồn lực không thuộc sự sở hữu của mình, cần lưu ý rằng tự chủ chiến lược sẽ trở thành có điều kiện, không phải tự chủ hoàn toàn. Điều này là do nhà nước không có chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên đó, những nguồn tài nguyên này có thể bị chủ sở hữu chuyển hướng vào bất kỳ lúc nào để phục vụ cho các mục tiêu cụ thể khác của riêng họ. Nói cách khác, trong trường hợp một liên minh, các mục tiêu của quốc gia thành viên phải được thương lượng với các mục tiêu của các bên khác trong liên minh. Bởi vậy, sự nhất trí theo đuổi chung một mục tiêu hay không luôn phụ thuộc vào ý chí của từng thành viên trong liên minh.
Do đó, tự chủ chiến lược cũng có thể bao hàm toàn bộ hệ thống, quy trình hoạch định chính sách của nhà nước hay một liên minh, hoặc cũng có thể chỉ bao hàm chính sách, năng lực của một lĩnh vực hành động nhất định, ví dụ: tự chủ chiến lược quân sự hoặc tự chủ chiến lược kinh tế. Tự chủ chiến lược dưới góc nhìn lý thuyết QHQT 1. Chủ nghĩa Hiện thực Dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực, tự chủ chiến lược có thể được coi là lựa chọn chính sách của một quốc gia trong môi trường vô chính phủ, trong sự cạnh tranh thường xuyên với các quốc gia khác. Hoàn cảnh này 13 Victor Bento, Strategic Autonomy and Economic Power: The Economy as a Strategic Theater, tr.
12 khiến các quốc gia phải tự lực hay tự cứu mình (self-help) chứ không thể trông mong vào sự giúp đỡ của một chính quyền nào đó ở trên hay sự cứu giúp từ các nước khác do đặc tính ích kỷ tư lợi của mọi quốc gia. Lợi ích quốc gia là định hướng và ưu tiên cho mọi chính sách đối ngoại, từ đó, quốc gia luôn quan tâm tới việc bảo đảm chủ quyền quốc gia và đấu tranh thực hiện lợi ích quốc gia của chính mình và bằng chính thực lực của mình. Để tồn tại được trong môi trường như vậy, quốc gia cần phải có quyền lực, vì càng có nhiều quyền lực thì vị trí của nước đó trong hệ thống thế giới càng cao và an ninh của quốc gia đó càng được đảm bảo14. Khi đó, tự chủ chiến lược có thể được coi là một phương tiện, và là kết quả của một số chính sách như “cân bằng" (balancing) và “phù thịnh" (bandwagoning) nhằm củng cố quyền lực.
Trong đó, các nước lớn nếu theo đuổi ý tưởng tự chủ thì sự khả thi sẽ cao hơn so với các nước nhỏ. Sự chênh lệch về sức mạnh và khả năng giữa nước lớn và nước nhỏ trong quan hệ quốc tế tác động lên nhau, đem lại nhiều hệ luỵ khác nhau cho các nước nhỏ. Các quốc gia này thường bị giảm khả năng tự quyết, tự chủ kể cả trong những vấn đề thuộc chủ quyền của mình15. Do đó, nếu muốn theo đuổi ý tưởng tự chủ, các nước nhỏ sẽ phải chấp nhận một sự tự chủ bị động, đi kèm cùng những điều kiện khác.
Một số nước nhỏ lựa chọn định hướng cân bằng bên ngoài16, trong trường hợp này, các nước nhỏ sẽ dễ rơi vào sự phụ thuộc bất tương xứng trong quan hệ với chính nước lớn trong liên minh, sẽ bị giảm sự tự chủ và tự quyết trong các chính sách của mình17.