Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về truyền thông luật doanh nghiệp trên báo điện tử Chương 2: Thực trạng truyền thông về Luật doanh nghiệp 2014 trên báo điện tử được chọn khảo sát Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về Luật doanh nghiệp 2014 trên báo điện tử trong thời gian tới 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG LUẬT DOANH NGHIỆP TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Truyền thông - Khái niệm: Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, nó ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động đến mọi cá thể xã hội.
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về truyền thông, tùy theo từng lĩnh vực và góc độ nghiên cứu mà người ta đưa ra những định nghĩa về truyền thông khác nhau: Theo như Từ điển Oxford định nghĩa “truyền thông là quá trình truyền đạt, phổ biến và trao đổi thông tin bằng cách nói, viết hoặc sử dụng những phương tiện truyền thông khác”. Nhà nghiên cứu Dean C. Barlund (1964) đưa ra quan điểm truyền “truyền thông là quá trình liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có hành vi hiệu quả hơn. Quá trình làm giảm rõ độ không rõ ràng tức là làm cho sự hiểu biết nhau tăng lên; nhờ đó hành vi ứng xử với nhau hiệu quả hơn” [2, tr.
Nghiên cứu của Gerald Miler tiếp cận truyền thông với khía cạnh hành vi con người. Ông cho rằng, về cơ bản truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ. Ở Việt Nam, khái niệm này xuất hiện khá muộn. Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 2005 có đưa ra cách hiểu chung nhất về truyền thông “là quá trình truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng” [58, tr.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở các từ điển Tiếng Việt đã xuất bản trước đó, khái niệm này còn chưa được đề cập đến. Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng thì “đó là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [55, tr. Trong cuốn Truyền thông, lí thuyết và kỹ năng cơ bản của tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thu Hằng đưa ra khái niệm “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội” [19, tr. Có thể thấy rằng với các định nghĩa trên, các tác giả muốn nhấn mạnh truyền thông là một quá trình liên tục chứ không phải là một việc nhất thời trong khuân khổ thời gian hạn hẹp, và kết quả của truyền thông không chỉ dừng lại ở “sự hiểu biết lẫn nhau” giữa các thực thể tham gia quá trình truyền thông mà còn tiến tới “sự thay đổi trong hành động và nhận thức”.
Sự thay đổi này phù hợp với nhu cầu phát triển của đối tượng, có nghĩa là nếu truyền thông không gắn với nhu cầu của công chúng thì sẽ không đạt hiệu quả. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn nhận thấy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông. Mỗi định nghĩa, quan điểm đều có những khía cạnh hợp lí riêng và có những nét tương đồng căn bản. Theo đó, lí thuyết truyền thông thể hiện mối liên hệ giữa các dữ kiện truyền thông liên quan đến nhận thức, thái độ và hành vi của con người.
Giữa ba yếu tố đó luôn có khoảng cách. Truyền thông là một quá trình tạo nên sự đồng nhất hoặc rút ngắn khoảng cách đó. Bản chất của truyền thông là truyền đạt thông tin từ nơi này đến nơi khác. Truyền thông thường được thực hiện thông qua lời nói, chữ viết nhưng 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng có thể thực hiện thông qua cử chỉ, điệu bộ hay hành vi để biểu thị thái độ hay cảm xúc.
Từ các cơ sở trên đó, tác giả luận văn xin đưa ra một khái niệm chung nhất về truyền thông như sau: Truyền thông là một quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm. giữa hai hay nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tiến tới thay đổi nhận thức dẫn đến điều chỉnh hành vi và thái độ. - Các mô hình truyền thông: Trong lịch sử nghiên cứu sự phát triển của truyền thông các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều các mô hình truyền thông khác nhau như: mô hình truyền thông Harold D. Lasswell (1948), mô hình truyền thông C.
Trong khuân khổ của luận văn này tác giả chỉ xin nêu ra hai mô hình truyền thông cơ bản, được nhắc đến nhiều nhất đó là mô hình truyền thông tuyến tính – một chiều của Harold D. Lasswell và mô hình truyền thông đại chúng hai chiều mềm dẻo của Claude Shannon. Mô hình truyền thông tuyến tính – một chiều áp dặt là mô hình truyền thông đơn giản. Nó được hiểu là quá trình truyền thông tin giữa hai cá nhân, hay hai nhóm người với nhau, trong đó một cá nhân hay một nhóm người giữ vai trò là người truyền tin, truyền đi thông điệp với tư cách là những tác nhân kích thích nhằm sửa đổi hành vi của những cá nhân hay nhóm người khác.
Lasswell đã đưa ra mô hình truyền thông đại chúng trong nghiên cứu “The Structure and Function of Communication in Society” của mình: Ai nói cái gì: Bằng kênh nào? Cho ai? Có hiệu quả gì?. Theo đó quá trình truyền thông là quá trình truyền tải thông điệp giữa nguồn phát để gây ảnh hưởng tới người nhận thông qua các kênh truyền thông. Mô hình truyền thông của Harold D. Lasswell bao gồm những yếu tố sau: 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com S (Source Sender): Nguồn phát, chủ đề truyền thông M (Mesage): Thông điệp, nội dung truyền thông C (Channel): Kênh truyền thông R (Receive): Người nhận thông điệp E (Effect): Hiệu quả truyền thông Who Say In To Whit What Which Whom What Source Channel Effects Sender Mesage Receive Medium Effect Hình 1.
Mô hình truyền thông Harold D. Lasswell Từ mô hình truyền thông này cho thấy, phương thức thông tin được chuyển tải một chiều. Bắt đầu từ nguồn phát, những thông điệp được truyền qua kênh truyền thông, đến người tiếp nhận thông tin. Khi hoàn thành quá trình này sẽ tạo ra hiệu quả thông tin.
Nguồn phát: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông. Nói cách khác, nguồn phát là người hay nhóm người mang nội dung thông tin muốn được trao dổi với người hay nhóm người khác. Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thực chất, thông điệp là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, hiểu biết, ý kiến, đòi hỏi, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật đã được mã hóa theo một hệ thống kí hiệu nào đó.
Hệ thống kí hiệu đó có ý nghĩa thực tế là phương tiện để phản ánh thông điệp. Nó phải là hệ thống được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận, cùng có chung cách hiểu. Trong đời sống xã hội loài người tồn tại nhiều hệ thống kí hiệu khác nhau như tiếng nói, chữ viết trong ngôn ngữ, hệ thống biển báo giao thông, hệ thống các cử chỉ biểu đạt của con người. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kênh truyền thông: là sự thống nhất của phương tiện, con đường, cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Những yếu tố tạo thành kênh truyền thông đồng thời quy định tính chất, đặc điểm của nó. Căn cứ vào các tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia kênh truyền thông thành các loại hình khác nhau như: truyền thông cá nhân, truyền thông trực tiếp, truyền thông đại chúng, truyền thông đa phương tiện. Đối tượng tiếp nhận: là các cá thể hay tập thể người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. Cũng có thể nói, các cá thể hay nhóm người tiếp nhận thông điệp là đối tượng tác động của truyền thông.
Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở biến đổi về tâm lí, nhận thức và hành vi của đối tượng tiếp nhận. Đây là mô hình thông tin đơn giản những rất thuận lợi khi chuyển tải những thông tin nhanh. Trong mô hình này, nguồn phát giữ vai trò quyết định. Có khả năng áp đặt quan điểm, tư tưởng của mình đối với người tiếp nhận thông tin một cách thụ động, không có hoặc ít có sự phản hồi trở lại dù đó là sự tác động tích cực để thấy được thái độ tiếp nhận thông tin của công chúng hoặc những thông tin đã chuyển tải có phù hợp hay không.
Chính vì những hạn chế như vậy nên mô hình truyền thông này chưa làm thỏa mãn được nhu cầu thông tin, chưa thu hút, chưa tạo được sự quan tâm của công chúng. Shannon đưa ra mô hình truyền thông hai chiều mềm dẻo để khắc phục được những nhược điểm của mô hình truyền thông một chiều. Theo ông, thông tin được bắt đầu từ nguồn phát (S) thông qua kênh truyền thông đến với người nhận (R) rồi thu hiệu quả (E) bao gồm các yếu tố trong mô hình truyền thông hai chiều như sau: S (Source Sender): Nguồn phát, chủ đề truyền thông M (Mesage): Thông điệp, nội dung truyền thông 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com C (Channel): Kênh truyền thông R (Receive): Người nhận thông điệp E (Effect): Hiệu quả truyền thông F (Feedback): Thông tin phản hồi từ người tiếp nhận N (Noise): Nhiễu (những yếu tố tạo sai số thông tin) Như vậy, ngoài các yếu tố trên, C. Shannon đã đưa vào mô hình thông tin của mình những yếu tố đó là: F (Feedback): Thông tin phản hồi từ người tiếp nhận và N (Noise): Nhiễu (những yếu tố tạo sai số thông tin).
Mô hình truyền thông C. Shannon Từ mô hình truyền thông trên của C. Shannon cho thấy thông tin được truyền đi từ nguồn phát qua các kênh thông tin đến với người nhận (R) qua quá trình xử lí, thu được hiệu quả thông tin (E), hiệu quả thông tin để định hướng suy nghĩ và hành động của công chúng, từ đó tạo ra phản ứng của công chúng ngược lại với nguồn phát (F). Nhờ có thông tin phản hồi mà các nhà 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.