Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, khoa học và công nghệ được Đảng và Nhà nước xác định là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Để các chủ trương này đi vào đời sống, hoạt động truyền thông đại chúng, đặc biệt là báo điện tử, đóng vai trò cầu nối thông tin thiết yếu giữa cơ quan quản lý, giới nghiên cứu và toàn thể xã hội. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học tập trung khảo sát toàn diện 13.276 tin, bài xuất bản trên 4 báo điện tử lớn gồm VnExpress, VietnamPlus, Dân trí và Đất Việt trong khung thời gian 24 tháng (từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2016).

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá thực trạng sản xuất nội dung, hình thức thể hiện và mức độ tương tác của công chúng đối với thông tin khoa học và công nghệ trên báo điện tử. Từ đó, đề tài chỉ ra những thành tựu nổi bật cũng như rào cản hạn chế, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền tri thức khoa học kỹ thuật trong kỷ nguyên số. Nghiên cứu bám sát các định hướng lớn tại Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020 theo Quyết định số 418/QĐ-TTg và Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Kết quả của luận văn góp phần làm phong phú hệ thống lý luận truyền thông chuyên ngành, cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho công tác quản lý thông tin báo chí và tối ưu hóa trải nghiệm tiếp nhận tri thức của hàng triệu độc giả trực tuyến.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng đồng bộ 2 lý thuyết truyền thông nền tảng nhằm giải mã mối tương quan giữa cơ quan báo chí và công chúng độc giả:

Thứ nhất, Lý thuyết Sử dụng và Hài lòng (Uses and Gratifications Theory) được khởi xướng bởi Herta Herzog năm 1944, phát triển bởi Wilbur Schramm năm 1954 và hoàn thiện bởi Denis McQuail năm 1972. Lý thuyết này luận giải hành vi chủ động tìm kiếm thông tin của độc giả để thỏa mãn 4 nhóm nhu cầu: nắm bắt dòng sự kiện, củng cố quan hệ cá nhân, định hình bản sắc cá nhân và giám sát môi trường sống. Việc tiếp cận thông tin khoa học và công nghệ trên nền tảng internet giúp công chúng nâng cao nhận thức và khẳng định vị thế bản thân.

Thứ hai, Lý thuyết Nhận thức phụ thuộc (Media System Dependency Theory) do Sandra Ball-Rokeach và Melvin DeFleur công bố năm 1976. Mô hình này làm rõ cấu trúc tương tác 3 chiều giữa Hệ thống Xã hội, Hệ thống Truyền thông và Công chúng, chỉ ra rằng mức độ phụ thuộc vào thông tin báo chí tỷ lệ thuận với tốc độ biến đổi của môi trường xã hội. Bên cạnh đó, luận văn vận dụng Mô hình truyền thông 2 chiều của Claude Shannon (1949) với 5 thành tố cốt lõi (Nguồn, Thông điệp, Kênh truyền, Người nhận, Hiệu quả) nhằm đánh giá 5 cấp độ tác động: xây dựng nhận thức, tăng cường sự quan tâm, thay đổi thái độ, chuyển biến hành vi và hình thành tập quán. Các khái niệm trung tâm gồm: Khoa học (Luật Khoa học và Công nghệ 2013), Công nghệ (Mô hình Sharif 4 thành phần), Truyền thông khoa học công nghệ và Báo điện tử (Nghị định số 72/2013/NĐ-CP).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình thực nghiệm đa phương pháp trên nguồn dữ liệu phong phú, bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao:

Thứ nhất, Phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis) được thực hiện trên tổng thể cỡ mẫu 13.276 tác phẩm báo chí thu thập từ chuyên mục Khoa học, Công nghệ của 4 báo điện tử trong thời gian 2 năm (2015 - 2016). Các bài viết được mã hóa và phân loại định lượng theo 5 chủ đề cốt lõi: Cơ chế chính sách; Công nghệ và sáng chế mới; Ứng dụng khoa học công nghệ; Thông tin phản biện; và Khoa học công nghệ quốc tế. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác dung lượng, tần suất xuất hiện và cơ cấu thể loại của từng đơn vị khảo sát.

Thứ hai, Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trực tuyến (Survey) với cỡ mẫu 200 người, chia đều thành 2 nhóm độc giả đại diện: 100 cán bộ, công chức, viên chức, nhà khoa học và 100 sinh viên các trường đại học. Phương pháp chọn mẫu phân tầng phi ngẫu nhiên được áp dụng để so sánh sự khác biệt về nhu cầu tiếp nhận, mục đích sử dụng và mức độ hài lòng giữa nhóm có chuyên môn học thuật và nhóm độc giả trẻ.

Thứ ba, Phương pháp phỏng vấn sâu (In-depth Interview) đối với 4 nhóm chủ thể then chốt: Lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Truyền thông Khoa học và Công nghệ (CESTC) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ; Lãnh đạo Ban Biên tập báo điện tử VietnamPlus; cùng đội ngũ phóng viên, biên tập viên trực tiếp theo dõi mảng khoa học của báo Dân trí.

Thứ tư, Phương pháp nghiên cứu tài liệu tổng hợp hơn 20 văn kiện chỉ đạo, nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước và các công trình khoa học trong nước cũng như quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng trên 13.276 tác phẩm báo chí trong giai đoạn 2015 - 2016 ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:

Một là, Số lượng bài viết phân bổ không đồng đều giữa các tòa soạn. Báo VnExpress đứng đầu với 5.109 tin, bài (chiếm 38,5% tổng dung lượng khảo sát), VietnamPlus xếp thứ hai với 4.300 bài (chiếm 32,4%), báo Dân trí đạt 2.007 bài (chiếm 15,1%) và báo Đất Việt đạt 1.860 bài (chiếm 14,0%). Tần suất xuất bản trung bình dao động từ 2,5 đến 7 bài/ngày trên mỗi chuyên trang.

Hai là, Cơ cấu chủ đề có sự mất cân đối rõ rệt. Thông tin về khoa học công nghệ nước ngoài và các hiện tượng tự nhiên kỳ bí chiếm tỷ trọng áp đảo hơn 60% tổng số bài đăng. Trong khi đó, các tuyến bài về cơ chế chính sách, chuyển giao công nghệ và sáng chế phục vụ sản xuất trong nước chỉ chiếm khoảng 18% đến 25%. Các bài viết phản biện xã hội và thảo luận chuyên sâu chiếm tỷ lệ rất thấp, dưới 8%.

Ba là, Thể loại và hình thức trình bày còn đơn điệu. Tin phản ánh ngắn và tin dịch tổng hợp từ nguồn nước ngoài chiếm hơn 70% tổng số sản phẩm thông tin. Các thể loại báo chí có chiều sâu như phóng sự điều tra, bài chuyên luận, phỏng vấn chuyên gia chiếm chưa đến 15%. Về mặt đa phương tiện, hơn 75% tác phẩm vẫn duy trì cấu trúc văn bản kết hợp ảnh tĩnh đơn giản; các định dạng hiện đại như Infographic, Mega-story hoặc phóng sự truyền hình tích hợp chỉ chiếm dưới 5%.

Bốn là, Tỷ lệ chuyên trang khoa học công nghệ có sự chênh lệch lớn theo cấp quản lý. Tại cấp trung ương, 53 trên tổng số 79 báo và tạp chí điện tử có duy trì chuyên mục khoa học công nghệ (tương đương 67%), trong khi ở khối báo chí địa phương, chỉ có 41 trên 63 tỉnh thành có chuyên trang tương tự.

Thảo luận kết quả

Khi tổng hợp dữ liệu qua các bảng phân tích tần suất và biểu đồ cơ cấu nội dung, nguyên nhân cốt lõi của sự thiên lệch thông tin bắt nguồn từ áp lực thu hút lượt truy cập (pageviews) và bài toán kinh tế báo chí. Các tòa soạn có xu hướng ưu tiên xuất bản tin tức mang tính giải trí, chuyện lạ thế giới để kích thích sự tò mò của công chúng, thay vì đầu tư nguồn lực dài hạn cho những bài viết nghiên cứu công nghệ chuyên sâu vốn khô khan và kén độc giả.

So sánh với bức tranh toàn cảnh gồm 859 cơ quan báo in và 67 đài phát thanh - truyền hình trên toàn quốc, báo điện tử thể hiện ưu thế vượt trội về tốc độ phát hành tính bằng giây và khả năng lưu trữ dữ liệu liên kết. Tuy nhiên, mức độ phân tích chuyên môn lại chưa tương xứng. Kết quả từ 200 phiếu khảo sát công chúng chỉ ra rằng: 82% người đọc mong muốn tiếp cận thông tin ứng dụng kỹ thuật phục vụ trực tiếp đời sống và sản xuất, nhưng 64% độc giả nhận định ngôn ngữ báo chí hiện nay còn nặng tính hàn lâm, dịch thuật thô cứng, thiếu vắng các bài phân tích giải thích bằng ngôn ngữ đại chúng dễ hiểu.

Đề xuất và khuyến nghị

Để giải quyết các rào cản thực tiễn và nâng cao năng lực truyền thông khoa học công nghệ trên báo điện tử, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước. Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp cùng Bộ Thông tin và Truyền thông rà soát, cụ thể hóa các điều khoản thi hành Điều 48 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013; duy trì định kỳ 4 kỳ họp báo/năm theo Quyết định số 2093/QĐ-BKHCN nhằm chủ động cung cấp 100% nguồn thông tin chính thống, đáng tin cậy cho báo giới.

Thứ hai, Tái cấu trúc nội dung và hiện đại hóa hình thức trình bày tại các tòa soạn. Ban biên tập các báo điện tử cần thiết lập chỉ tiêu nâng tỷ lệ bài viết về công nghệ trong nước lên tối thiểu 40% trong tổng dung lượng chuyên mục; tăng cường đầu tư sản xuất tối thiểu 20% các sản phẩm báo chí dữ liệu (Data Journalism), Infographic, Video đồ họa ngắn và Audio podcast trong giai đoạn 2018 - 2022 để thu hút độc giả trẻ.

Thứ ba, Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa 3 nhà (Nhà quản lý, Nhà khoa học và Nhà báo). Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Truyền thông Khoa học và Công nghệ (CESTC) cần hoàn thiện mạng lưới kết nối trực tuyến với danh bạ hơn 500 chuyên gia, nhà nghiên cứu đầu ngành để hỗ trợ phóng viên thẩm định thông tin khoa học trong vòng 24 giờ.

Thứ tư, Chuẩn hóa chương trình đào tạo nghiệp vụ báo chí chuyên biệt. Các cơ sở giáo dục đại học như Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cần đưa học phần Truyền thông Khoa học và Công nghệ với thời lượng 45 tiết vào khung đào tạo đại học và sau đại học; đồng thời tổ chức các khóa tập huấn thường niên nhằm bồi dưỡng kỹ năng phân tích số liệu cho 100% phóng viên mảng khoa học trong vòng 3 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1: Lãnh đạo ban biên tập, phóng viên và biên tập viên tại 135 cơ quan báo, tạp chí điện tử trên toàn quốc. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực chứng giúp tòa soạn xây dựng chiến lược phát triển chuyên trang, đổi mới phương thức tiếp cận đề tài khoa học và tối ưu hóa trải nghiệm đọc đa nền tảng.

Nhóm 2: Cơ quan quản lý nhà nước gồm Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông cùng 63 Sở Khoa học và Công nghệ địa phương. Dữ liệu luận văn hỗ trợ hoàn thiện quy chế phát ngôn, phân bổ ngân sách truyền thông hàng năm minh bạch và gia tăng hiệu quả phổ biến tri thức khoa học tại cơ sở.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Xã hội học thông tin. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp phân tích nội dung kết hợp điều tra xã hội học và ứng dụng các lý thuyết truyền thông hiện đại.

Nhóm 4: Hơn 3.000 doanh nghiệp công nghệ và các dự án khởi nghiệp sáng tạo (Startup). Tài liệu giúp các đơn vị nắm bắt cơ chế tiếp nhận của truyền thông báo chí, từ đó xây dựng kế hoạch quảng bá sản phẩm đổi mới sáng tạo hiệu quả đến với khách hàng mục tiêu.

Câu hỏi thường gặp

Báo điện tử giữ ưu thế gì nổi bật trong hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ? Báo điện tử có khả năng phát hành thông tin theo thời gian thực với hàng triệu lượt truy cập mỗi ngày, kết hợp siêu liên kết và tính năng bình luận tương tác tức thì. Điều này giúp tri thức khoa học lan tỏa nhanh hơn hẳn so với 859 ấn phẩm báo in truyền thống.

Tại sao tin tức khoa học công nghệ nước ngoài lại chiếm tỷ trọng lớn trên báo điện tử? Khảo sát 13.276 tin bài cho thấy thông tin nước ngoài chiếm hơn 60% do nguồn tài nguyên quốc tế phong phú, hình ảnh sống động và sẵn có. Phóng viên dễ dàng khai thác chuyển ngữ nhanh, đáp ứng thị hiếu tò mò của công chúng mà không đòi hỏi chi phí tác nghiệp thực địa lớn.

Rào cản lớn nhất của phóng viên khi đưa tin về đề tài khoa học công nghệ là gì? Khó khăn lớn nhất nằm ở rào cản thuật ngữ chuyên môn phức tạp và việc thiếu cơ chế phản hồi thông tin nhanh từ 100% các viện nghiên cứu. Phóng viên thường gặp lúng túng trong việc biến đổi các báo cáo khoa học nặng tính hàn lâm thành tác phẩm báo chí hấp dẫn, dễ hiểu.

Lý thuyết Sử dụng và Hài lòng giải thích nhu cầu độc giả đọc tin khoa học ra sao? Lý thuyết chỉ ra rằng độc giả tìm đến chuyên mục khoa học để thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết, phục vụ công việc và bắt kịp xu thế xã hội. 82% người được hỏi khẳng định việc tiếp cận thông tin công nghệ ứng dụng giúp họ nâng cao hiệu quả lao động thực tiễn.

Doanh nghiệp và viện nghiên cứu cần làm gì để xuất hiện nhiều hơn trên báo chí? Doanh nghiệp và viện nghiên cứu cần chủ động thiết lập bộ phận truyền thông chuyên nghiệp, định kỳ cung cấp thông cáo báo chí về các giải pháp kỹ thuật mới, đồng thời tích cực tham gia các sự kiện truyền thông như Giải thưởng báo chí Khoa học và Công nghệ với hơn 700 tác phẩm dự thi hàng năm để quảng bá thành tựu.

Kết luận

  • Công trình đã xử lý thành công khối lượng dữ liệu thực chứng gồm 13.276 tin, bài trên 4 cơ quan báo điện tử uy tín trong giai đoạn 24 tháng liên tục.
  • Luận văn khẳng định vai trò trụ cột của báo điện tử trong việc hiện thực hóa mục tiêu đưa khoa học công nghệ thành động lực phát triển quốc gia theo Nghị quyết số 20-NQ/TW.
  • Chỉ rõ thực trạng mất cân đối giữa hơn 60% tin tức khoa học quốc tế giải trí và tỷ lệ khiêm tốn dưới 25% các bài viết chuyên sâu về sáng chế, chuyển giao công nghệ trong nước.
  • Xây dựng mô hình nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa 200 phiếu khảo sát công chúng và 4 nhóm phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý, người làm báo.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm chuẩn hóa công tác quản trị nội dung, nâng cấp định dạng báo chí đa phương tiện và thúc đẩy đào tạo nhân lực báo chí chuyên ngành trong lộ trình 3 năm tới.