Nghiên cứu: Truyền thông Di sản Thế giới Tràng An qua Báo chí Đối ngoại

Luận văn phân tích hoạt động truyền thông về di sản Tràng An qua báo chí đối ngoại. Đánh giá thực trạng, hạn chế và đề xuất giải pháp quảng bá.

Chuyên ngành

Văn hóa – Nghệ thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công trình nghiên cứu khoa học

2022

60
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của truyền thông di sản trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trong era số hiện nay, truyền thông di sản đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh và thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế. Báo chí đối ngoại không chỉ là phương tiện quảng bá thông tin mà còn là "đòn bẩy" cho sự hợp tác và giao lưu quốc tế. Việc truyền thông hiệu quả về các di sản thế giới giúp khẳng định sức mạnh văn hóa, lịch sử và vị trí của mỗi quốc gia. Khi nền kinh tế mở cửa và hội nhập sâu rộng, truyền thông đối ngoại trở thành cầu nối quan trọng giữa nền văn hóa, kinh tế và chính trị của các quốc gia. Thách thức cạnh tranh về sản phẩm, nhân lực và đầu tư đòi hỏi mỗi di sản phải xây dựng "thương hiệu" riêng với những điểm khác biệt vượt trội.

1.1. Định nghĩa và ý nghĩa truyền thông di sản

Truyền thông di sản là quá trình truyền tải thông tin về giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của các di sản thế giới tới công chúng trong và ngoài nước. Nó giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ và phát triển di sản, đồng thời tạo động lực cho du lịch văn hóa và phát triển kinh tế bền vững.

1.2. Kênh báo chí đối ngoại và ảnh hưởng toàn cầu

Báo chí đối ngoại như VTV4 và Vietnamplus là những kênh truyền thông chính thức của Việt Nam. Chúng có khả năng tiếp cận độc giả và khán giả quốc tế rộng lớn, giúp quảng bá hình ảnh đất nước và di sản văn hóa một cách chuyên nghiệp, tin cậy và hiệu quả.

II. Quần thể danh thắng Tràng An giá trị di sản thế giới kép

Tràng An, Ninh Bình là một trong những di sản thế giới hiếm hoi của Việt Nam được UNESCO công nhận với giá trị kép vào năm 2014. Quần thể này sở hữu những giá trị nổi bật về địa chất - địa mạo, lịch sử - văn hóa và tâm linh. Với những danh thắng tự nhiên kỳ vĩ và di tích lịch sử phong phú, Tràng An đã trở thành biểu tượng du lịch văn hóa của Việt Nam với sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong khu vực Đông Nam Á. Chính phủ Việt Nam đã xếp hạng Tràng An là di tích quốc gia đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay truyền thông di sản Tràng An vẫn chưa phát triển xứng đáng với tiềm năng, thông tin đối ngoại còn rời rạc và chưa đủ xác thực.

2.1. Đặc điểm và giá trị nổi bật của Tràng An

Tràng An kết hợp các yếu tố địa chất độc đáo với dấu tích lịch sử sâu sắc, từ vịnh Hạ Long cạn vào thời kỳ Pleistocen đến các di chỉ khảo cổ học quan trọng. Cảnh quan karst ngoạn mục cùng văn hóa tâm linh phong phú làm nên giá trị nổi bật không thể thay thế.

2.2. Vị trí chiến lược và vai trò trong du lịch văn hóa

Tràng An là điểm kết nối với các khu vực di sản lân cận như Hà Nội, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An. Tuy nhiên, truyền thông về Tràng An qua báo chí đối ngoại chưa có tính cụ thể, khó tiếp cận với du khách quốc tế.

III. Thực trạng truyền thông Tràng An qua báo chí đối ngoại

Hiện nay, truyền thông di sản Tràng An qua các kênh báo chí đối ngoại như VTV4 và Vietnamplus vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Thông tin về quần thể danh thắng này trên các nền tảng đối ngoại còn mang tính phân tán, chưa tạo thành một chiến lược truyền thông nhất quán. Rất nhiều khách du lịch quốc tế vẫn chưa hiểu rõ hoặc chưa biết đến giá trị đặc sắc của di sản Tràng An. Nội dung truyền thông thiếu sự sinh động, chưa khai thác hết các giá trị độc đáo của địa điểm. Cơ sở thông tin đối ngoại còn rời rạc, thiếu sự liên kết giữa các khía cạnh địa chất, lịch sử, văn hóa. Điều này dẫn đến việc truyền thông đối ngoại chưa phát huy tác dụng tối đa trong việc thu hút du khách quốc tế.

3.1. Mặt tích cực của truyền thông hiện tại

Các kênh báo chí đối ngoại VTV4 và Vietnamplus đã có những bước tiến trong truyền thông di sản Tràng An. Chúng sử dụng công nghệ hiện đại, định dạng đa phương tiện để giới thiệu di sản thế giới này. Các bài viết và video đã giúp nâng cao nhận thức của một phần công chúng quốc tế về Tràng An.

3.2. Những hạn chế cần khắc phục

Truyền thông Tràng An hiện chưa có chiến lược tổng thể, thiếu sự nhất quán về thông điệp. Nội dung còn lặp lại, chưa sáng tạo, ít khai thác kỳ tích địa chất hoặc lịch sử sâu. Khó tiếp cận với độc giả đối ngoại, thiếu ngôn ngữ địa phương phù hợp.

IV. Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông di sản Tràng An

Để truyền thông di sản Tràng An qua báo chí đối ngoại phát triển hiệu quả, cần xây dựng chiến lược truyền thông toàn diện và bài bản. Thứ nhất, cần tăng cường đầu tư vào công nghệ truyền thông hiện đại, sử dụng các định dạng nội dung đa dạng như video 4K, thuyết minh đa ngôn ngữ, livestream trực tiếp. Thứ hai, phát triển nội dung truyền thông chất lượng cao, chuyên sâu về các khía cạnh địa chất, lịch sử, văn hóa và tâm linh. Thứ ba, xây dựng kênh truyền thông liên tục, không chỉ tập trung vào các dịp lễ hội. Thứ tư, tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chức năng, nhà báo và chuyên gia để tạo ra thông tin chính xác, có giá trị. Cuối cùng, nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ làm truyền thông di sản qua tuyên truyền, tập huấn và áp dụng công nghệ tiên tiến.

4.1. Xây dựng chiến lược truyền thông toàn diện

Cần phát triển chiến lược truyền thông dài hạn cho di sản Tràng An với các mục tiêu cụ thể. Tập trung vào các thị trường du lịch chính, tạo nội dung đặc thù cho từng nhóm khán giả. Liên kết với các tổ chức quốc tế, UNESCO để tăng độ tin cậy và sức ảnh hưởng.

4.2. Phát triển năng lực nhân sự và áp dụng công nghệ

Đào tạo đội ngũ cộng tác viên, phóng viên chuyên sâu về truyền thông di sản. Ứng dụng AI, phân tích dữ liệu để tối ưu hóa nội dung. Xây dựng mạng lưới chuyên gia địa chất, lịch sử để cung cấp thông tin chính xác, đáng tin cậy.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG DI SẢN, BÁO CHÍ ĐỐI NGOẠI VÀ KHÁI QUÁT QUẦN THỂ DANH THẮNG TRÀNG AN, NINH BÌNH 1. Lý luận về truyền thông di sản 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm di sản Theo Y.

Ahmad (2006), hiện nay có không dưới 40 văn bản mang tính quốc tế và quốc gia liên quan đến vấn đề di sản và bảo tồn di sản chủ yếu do UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) và ICOSMOS (Hội đồng di tích và di chỉ Quốc tế) ban hành. Trong các văn bản này, người ta mới quan tâm đến các di sản văn hóa, ít quan tâm đến các loại hình di sản khác bao gồm di sản tự nhiên. Vì vậy một định nghĩa chung về di sản chưa được thể hiện rõ. Ahmad (2006), UNESCO và ICOSMOS hiểu khái niệm di sản từ Hiến chương Venice khác nhau vào những năm 1960.

UNESCO định nghĩa di sản là các tài sản văn hóa trong khi ICOSMOS lại định nghĩa di sản là các di tích và các di chỉ. Khái niệm này được thống nhất hơn trong Công ước của UNESCO năm 1972 về bảo tồn các di sản văn hóa và tự nhiên. Trong các văn bản trên, người ta có thể hiểu di sản bao gồm những loại hình nào nhưng chưa có một định nghĩa rõ ràng nào về di sản. Hiệp hội Lý luận về Di sản Quốc gia, Hội đồng thuật ngữ Quebec (1980) đã định nghĩa “di sản là các tác phẩm hoặc sản phẩm kết hợp giữa tự nhiên và con người, ở trạng thái nguyên vẹn của nó, tạo nên môi trường mà con người sinh sống theo không gian và thời gian.

Di sản là một thực thể, sở hữu của cộng đồng, và có giá trị kế thừa mà chúng ta cần phải thừa nhận và tham gia bảo tồn chúng”. Tuy nhiên, trong Bản Hiến chương về Bảo tồn di sản ở Quebec do ICOSMOS Canada ban hành năm 1982 lại cho rằng di sản là một thuật ngữ bao gồm nhiều khái niệm (a comprehensive term) trong đó có 3 thực thể chính: văn hoá vật chất (tài sản văn hoá), môi trường địa lý và môi trường nhân văn. Văn hóa vật chất hay tài sản văn hóa không chỉ bao gồm các kiến trúc thông thường và phổ biến mà còn bao gồm tất cả các bằng chứng vật chất như các hiện vật khảo cổ và dân tộc học, hình tượng, tài liệu lịch sử; đồ trang trí, nghệ thuật hay nói tóm lại là môi trường vật chất xung quanh ta. Môi trường địa lý, như bờ biển tự nhiên, núi non, đồng bằng - cảnh quan 7 Downloaded by tailieu schat (tailieuschat@gmail.com) lOMoARcPSD|38482106 thiên nhiên có giá trị độc đáo về thẩm mỹ, đại diện; và môi trường con người bao gồm các nhóm người có phong tục và truyền thống riêng, đặc biệt hoặc cách sống của họ thích nghi với điều kiện môi trường cụ thể nào đó.

Trong định nghĩa nảy, ICOSMOS đã bao hàm cả các môi trường tự nhiên có gắn với các hoạt động của con người hay cảnh quan văn hóa là kết quả tương tác giữa môi trường tự nhiên và con người. Di sản thế giới Khái niệm Di sản thế giới được đề cập chính thức trong Công ước về di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972. Theo đó, di sản thế giới là những di sản văn hóa và di sản thiên nhiên có giá trị ngoại hạng và vì vậy cần được bảo tồn. Như vậy, di sản thế giới là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố.

do các nước có tham gia Công ước Di sản thế giới đề cử cho Ủy ban Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi UNESCO. Sau đó UNESCO sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung. Những vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó. Ủy ban này được thành lập bởi Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, gọi tắt là Công ước Di sản thế giới, nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận vào ngày 16 tháng 11 năm 1972.

Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới chính là danh hiệu danh giá và lâu đời nhất. Truyền thông di sản +) Khái niệm về truyền thông: Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng La tinh “Commune” với nghĩa là “chung” hay “cộng đồng”. Theo đó: Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa những cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội. Nhờ truyền thông - giao tiếp mà con người tự nhiên trở thành con người xã hội.

Truyền thông, truyền thông đại chúng hay phương tiện thông tin đại chúng là những thuật ngữ rất phổ biến trong thời đại khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển. Nó có vai trò của thông tin và có ý nghĩa to lớn trong một xã hội mở, sự hội nhập, 8 Downloaded by tailieu schat (tailieuschat@gmail.com) lOMoARcPSD|38482106 tương tác, liên thông giữa lĩnh vực, các ngành, các mặt trong đời sống diễn ra rất đa dạng, phức tạp, chặt chẽ. Truyền thông là một lĩnh vực rất rộng, các hoạt động của truyền thông bao gồm các hoạt động truyền đạt, thông báo, tuyên truyền, quảng bá thông tin. Đó là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau, để từ đó chia sẻ ý tưởng hay hành động vì một mục đích nhất định.

Truyền thông theo định nghĩa hẹp là “sự trao đổi tin tức hoặc thông báo”, còn nghĩa rộng, theo UNESCO là hoạt động của cá nhân hoặc tập thể bao gồm toàn bộ những chuyển giao và trao đổi ý niệm, sự việc, dữ kiện. Xuất phát từ những hình thức truyền thông đơn giản, rồi dần dần con người phát minh ra những hình thức truyền thông phức tạp và hiện đại hơn như truyền hình, Internet, vệ tinh nhân tạo. Và chính những phương tiện thông tin hiện đại đó dần trở thành những công cụ không thể thiếu được để đảm bảo sự hoạt động ổn định của mỗi nền kinh tế cũng như mỗi chế độ xã hội. Không những thế, truyền thông còn đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người.

Con người không chỉ nắm bắt được những gì liên quan giữa bản thân mình và cuộc sống phong phú xung quanh mà còn đánh giá được khả năng, xác định đúng cách thức, phương hướng cho những hành vi và hoạt động tiếp theo từ quá trình truyền thông. Dẫu vậy, chúng ta cũng cần nhắc đến một khái niệm đó là “truyền thông mới”. Truyền thông với các di sản văn hóa là hai phạm trù song hành để tạo nên hiệu quả xã hội mà ở các nước phát triển người ta đã thực hành từ lâu. Theo đó, những giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đã đến được với công chúng, với những nhà quản lý, khiến cho di sản phát huy được tác dụng, khắc phục được những bất cập, tránh được những nguy cơ hủy hoại di sản từ thiên nhiên và con người.

+) Khái niệm hoạt động truyền thông: Hoạt động truyền thông có vai trò quan trọng, phản ánh trung thực mọi hoạt động của đời sống xã hội đến công chúng và là cầu nối để công chúng tiếp nhận, phản hồi thông tin. Càng ngày, mức độ công khai của hoạt động truyền thông đến công chúng ngày càng được mở rộng. Ngoài những ấn phẩm như sách, báo, tờ gấp. 9 Downloaded by tailieu schat (tailieuschat@gmail.com) lOMoARcPSD|38482106 các phương tiện truyền thông đại chúng khác như phát thanh, truyền hình, báo điện tử, báo in cùng với các hội nghị, hội thảo đã và đang góp phần thúc đẩy hoạt động truyền thông mạnh mẽ.

Hoạt động truyền thông có thể tác động vào ý thức xã hội để xác lập và củng cố hệ thống tư tưởng chính trị thống nhất, qua đó, liên kết các thành viên rời rạc thành một khối đoàn kết. Trong định hướng dư luận xã hội, việc lựa chọn góc độ thông tin và hàm lượng thông tin phân tích và bình luận trong mỗi sản phẩm truyền thông có ý nghĩa quan trọng. Với mỗi sự kiện, vấn đề, khi được hoạt động truyền thông đề cập cấp đến sẽ tạo ra sự ảnh hưởng tới dư luận xã hội về sự kiện, vấn đề đó. +) Khái niệm về truyền thông di sản: Hiện nay, chưa có nhiều tài liệu thực tế và chuẩn xác về truyền thông di sản.

Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu là truyền thông di sản là các hoạt động tuyên truyền, quảng bá những hình ảnh và thông tin về các giá trị quý báu của di sản thế giới, di sản văn hóa, di sản thiên nhiên thế giới hay di sản hỗn hợp thông qua các phương tiện đại chúng. Báo chí đối ngoại +) Truyền thông đối ngoại: Trước hết cần phân biệt rõ giữa truyền thông đối ngoại và truyền thông quốc tế. Tác giả Lê Thanh Bình đã định nghĩa về truyền thông quốc tế như sau: Truyền thông quốc tế là hoạt động truyền thông giữa các quốc gia chủ yếu bằng các phương tiện thông tin đại chúng do sự tác nghiệp của các nhà báo quốc tế chuyên nghiệp/nhà truyền thông quốc tế. Trên thực tế, truyền thông quốc tế gắn với nhiều chủ thể chuyên nghiệp như nhà báo quốc tế, nhà truyền thông quốc tế; gắn với các chủ đề, các vấn đề quốc tế; gắn với công chúng quốc tế rộng lớn, phương tiện, chuẩn mực của báo chí truyền thông mang tính phổ biến, quốc tế… Truyền thông đối ngoại: Trên thực tế chưa có khái niệm chuẩn xác về truyền thông đối ngoại nên khái niệm này có thể hiểu là truyền thông và đối ngoại là hoạt động truyền thông quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới, thế giới vào Việt Nam.

10 Downloaded by tailieu schat (tailieuschat@gmail.com) lOMoARcPSD|38482106 +) Báo chí: Luật Báo chí 2016 đã nêu rõ: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí do tác giả Tạ Ngọc Tấn làm chủ biên đã đưa khái niệm về báo chí như sau: Báo chí là hiện tượng đa nghĩa, gắn bó chặt chẽ với các thành tố của kiến trúc thượng tầng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ