phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được tổ chức thực hiện qua 3 chương: Chƣơng 1: Quan điểm, định hƣớng của Đảng, Nhà nƣớc về truyền thông biển, đảo. Chương này trình bày những quan điểm, chính sách, định hướng của Đảng, Nhà nước về truyền thông biển, đảo. Trong đó, có những chủ trương của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Cà Mau. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng thức chuyển tải thông điệp biển, đảo trên Báo Cà Mau, Báo ảnh Đất Mũi và Đài PT-TH Cà Mau.
Nội dung của chương này đi sâu phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực tế của tác phẩm báo in, phát thanh và truyền hình cụ thể. Khái quát những thành công qua các chuyên trang, chuyên mục, thể loại báo chí được sử dụng phục vụ cho nội dung biển, đảo. Chƣơng 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp để nâng cao hiệu quả truyền thông biển, đảo tại Cà Mau. Chương này đúc rút một số vấn đề đặt ra trong quá trình khảo sát; đưa gợi mở những chủ đề, hình thức phản ánh các tin bài về chủ đề biển, đảo.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƢỚC VỀ TRUYỀN THÔNG BIỂN, ĐẢO 1.1 Một số vấn đề lý luận chung 1.1 Những khái niệm Truyền thông có gốc từ tiềng Latinh là “Communicare”, nghĩa là biến nó thành thông thường (hay thực tế), chia sẻ, truyền tải. Truyền thông là sự luân chuyển thông tin và hiểu biết từ người này sang người khác thông qua các ký tín hiệu có ý nghĩa. Truyền thông không chỉ là quá trình chia sẻ thông tin. Các quá trình truyền thông phần lớn các trường hợp là các tương tác bằng dấu hiệu được trung gian hoà giải.
Ba mức độ quy tắc tín hiệu học thống trị các quá trình truyền thông là: cú pháp, thực dụng và ngữ nghĩa. Thế nên, truyền thông là phần nào một loại tương tác xã giao có ít nhất hai tác nhân làm việc tương tác cùng chia sẻ chung một bộ các ký hiệu và chung một quy tắc tín hiệu học.TS Nguyễn Văn Dững, Truyền thông, ở bình diện tổng quát, được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao (thay đổi) nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi của công chúng. Bản chất xã hội của truyền thông là tương tác và chia sẻ, thực hiện những cuộc vận động xã hội trên cơ sở tương tác bình đẳng giữa chủ thể và khách thể nhằm hướng tới mục tiêu chung vì lợi ích cộng đồng (20, tr. Truyền thông là một trong những kênh quan trọng nhất, thể hiện rõ nhất tính công khai, dân chủ hóa đời sống xã hội.
Các kênh truyền thông rất đa dạng, nhưng về cơ bản có các dạng thức như truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng (20, tr. Khái niệm báo chí theo nghĩa rộng được dùng để chỉ các sản phẩm phát hành thông qua các loại hình báo in, báo phát thanh, báo hình và báo mạng điện tử. Truyền thông đại chúng là phương tiện chuyển tải thông điệp, thông qua hệ thống 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các kênh truyền thông tác động vào công chúng để thông tin và chia sẻ tư tưởng, tình cảm, kỹ năng và kinh nghiệm… nhằm lôi kéo và thuyết phục, tập hợp và tổ chức công chúng tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang đặt ra. Hai khái niệm này trong thực tiễn gần như trùng khớp nhau.
Chính vì thế, yêu cầu quan trọng nhất của hoạt động báo chí – truyền thông là góp phần thay đổi nhận thức của công chúng xã hội, làm cho nhận thức của nhân dân từ chưa đúng đến đúng đắn hơn, từ nông đến sâu, từ nhiều khác biệt đến nhiều tương đồng hơn… Và cuối cùng là thống nhất nhận thức, tạo ra đồng thuận để hình thành thái độ chung, niềm tin, ý chí làm cơ sở cho hành động của đông đảo quần chúng tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển. Tạo lập, gây dựng niềm tin và ý chí cho hàng triệu người là mục tiêu quan trọng nhất của báo chí – truyền thông. Hiệu quả tác động của báo chí do đó cũng chịu sự chi phối, phụ thuộc của nhiều yếu tố, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; từ chủ quan đến khách quan… thể hiện theo các bình diện sau: Thứ nhất, giao diện, tần suất và cường độ giao tiếp của công chúng với các sản phẩm báo chí – truyền thông; Thứ hai, năng lực tác động, khả năng chi phối của các ấn phẩm báo chí đối với cộng đồng thông qua việc khơi nguồn, thể hiện – truyền dẫn, định hướng và điều hòa dư luận xã hội; Thứ ba, mối quan hệ tác động phản hồi – quan hệ ngược (feedback) của công chúng đối với các ấn phẩm báo chí cũng như thông điệp truyền thông; Thứ tư, vai trò của báo chí – truyền thông trong việc xã hội hóa cá nhân, trong việc hình thành, thể hiện diện mạo văn hóa cộng đồng cũng như góp phần hoàn thiện nhân cách mỗi con người. Thứ năm, khả năng thuyết phục, tập họp và tổ chức công chúng tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra.
Từ những phân tích trên đây cho thấy, mỗi loại hình báo chí cần chú ý khai thác những đặc trưng thế mạnh của mình trong vai trò phát huy sức mạnh của dư luận xã hội. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khái niệm biển, đảo Trong Từ điển tiếng Việt, “biển” được định nghĩa là: 1) Danh từ: 1. Vùng nước mặn rộng lớn trên bề mặt Trái Đất. Phần đại dương ven lục địa được ngăn cách bởi đảo hay đất liền.
Khối lượng nhiều, đông đảo, được ví như biển. Theo định nghĩa thông dụng, biển là phần riêng biệt của đại dương ăn sâu vào đất liền ít hay nhiều. Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 quy định về đảo ở Điều 121, nhưng không có quy định riêng về quần đảo (Phần IV - từ Điều 46 đến Điều 54 - quy định về quốc gia quần đảo chứ không phải quần đảo ngoài khơi thuộc nước lục địa). Theo đó, đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước (khoản 1 Điều 121 Công ước).
Quần đảo là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị hay được coi như thế về mặt lịch sử (Điều 46 điểm B). Theo Những điều cần biết về đất, biển, trời Việt Nam (Lưu Văn Lợi, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2007), Việt Nam giáp với biển Đông ở 2 phía Đông và Nam. Vùng biển Việt Nam là một phần của biển Đông, chiếm khoảng 29% diện tích của biển Đông (khoảng 1 triệu km2), rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền. Bờ biển dài 3.260 km, như vậy cứ 100 km2 thì có 1 km bờ biển (trung bình của thế giới là 600 km2 đất liền/ 1 km bờ biển).
Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền: 1 triệu km2/330. Biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ xa bờ, gần bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đảo ven bờ chủ yếu nằm ở vịnh Bắc Bộ; đảo nổi của nước ta có diện tích khoảng 1.700 km2, trong đó có 3 đảo diện tích lớn hơn 100 km2 (Phú Quốc, Cát Bầu, Cát Bà), có 23 đảo diện tích lớn hơn 10 km2, có 82 đảo diện tích lớn hơn 1 km2 và khoảng trên 4.000 hòn đảo chưa có tên. Dựa trên những khái niệm trên, truyền thông về biển, đảo trên báo chí Cà Mau được hiểu là công tác tuyên truyền, truyền tải thông tin về những vấn đề biển, đảo trong 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tỉnh, cả nước trên các phương tiện truyền thông đại chúng của tỉnh Cà Mau đến các đối tượng, cá nhân và tổ chức trong và ngoài tỉnh nâng cao nhận thức nhằm thay đổi thái độ và hành vi của những đối tượng này.2 Quan điểm, định hƣớng của Đảng, Nhà nƣớc về tuyên truyền biển đảo 1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về vấn đề biển đảo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã khẳng định: “Nước CHXHCN Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”.
Nguyên tắc quản lý và bảo vệ biển Việt nam đã được khẳng định trong Điều 4 của Luật Biển Việt Nam: 1. Quản lý và bảo vệ biển được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế khác mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển. Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế.
Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là văn bản pháp lý quan trọng thứ hai của thế giới (Sau Hiến chương Liên hợp quốc) được phê chuẩn vào ngày 16/11/1994, Việt Nam là nước 63 trên thế giới phê chuẩn công ước này thông qua Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ngày 23/6/1994 và nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn ngày 25/7/1994. Nghị quyết của Quốc hội ta phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 đã nhấn mạnh: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982, nước CHXHCN Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.