Luận văn: Trục lợi bảo hiểm thất nghiệp tại Ninh Thuận - Thực trạng và giải pháp

Phân tích thực trạng trục lợi bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam. Tìm hiểu nguyên nhân, tác động và các giải pháp để ngăn chặn hành vi này hiệu quả.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

2019

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

DANH MỤC CÁC QUY TRÌNH

TÓM TẮT

ABSTRACT

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Tình hình nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Không gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu đề tài

Kết cấu đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BHTN VÀ NHẬN DIỆN HÀNH VI TRỤC LỢI BHTN

1.1. Cơ sở pháp lý về Bảo hiểm thất nghiệp

1.1.1. Khái quát về Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

1.1.2. Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp

1.1.3. So sánh với Bảo hiểm thất nghiệp của một số nước trên thế giới

1.1.3.1. Bảo hiểm thất nghiệp ở Hoa Kỳ
1.1.3.2. Bảo hiểm thất nghiệp ở CHLB Đức
1.1.3.3. Bảo hiểm thất nghiệp ở Đan Mạch
1.1.3.4. Bảo hiểm thất nghiệp ở Nhật Bản
1.1.3.5. Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc

1.2. Sự trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp

1.2.1. Hành vi trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp

1.2.2. Nguyên nhân dẫn đến hành vi trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp

1.2.3. Những hệ luỵ khi Bảo hiểm thất nghiệp bị trục lợi

1.2.3.1. Trục lợi, gây thất thoát nguồn quỹ Bảo hiểm thất nghiệp
1.2.3.2. Trục lợi, tạo sự mất công bằng trong thụ hưởng
1.2.3.3. Trục lợi, ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội và gây phẫn nộ trong dư luận xã hội

1.3. Sự cần thiết phải có hành lang pháp lý để chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN PHÁP LUẬT CHỐNG TRỤC LỢI VÀ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở NINH THUẬN

2.1. Thực tiễn pháp luật về chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp

2.1.1. Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành để chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp

2.1.2. Hiệu quả của pháp luật chống trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp trong thực tiễn

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp tại Ninh Thuận

2.2.1. Tình hình tham gia Bảo hiểm thất nghiệp tại Ninh Thuận

2.2.2. Quy trình tính hưởng và chi trả Trợ cấp thất nghiệp tại Ninh Thuận

2.3. Tình hình trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận

2.3.1. Người lao động trục lợi Trợ cấp thất nghiệp

2.3.2. Người sử dụng lao động trục lợi Bảo hiểm thất nghiệp

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TRỤC LỢI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

3.1. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật

3.1.1. Đối với pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp

3.1.2. Đối với các pháp luật khác có liên quan

3.2. Thay đổi cơ chế phối hợp giữa ngành Lao động – Thương binh và Xã hội với cơ quan Bảo hiểm xã hội Ninh Thuận

3.3. Thay đổi cơ chế phối hợp giữa Cơ quan Nhà nước với Người sử dụng lao động

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về trục lợi bảo hiểm thất nghiệp ý nghĩa

Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là một chính sách an sinh xã hội cốt lõi, đóng vai trò như một tấm lưới an toàn cho người lao động khi không may bị mất việc làm. Chính sách này không chỉ hỗ trợ tài chính tạm thời mà còn giúp người lao động thông qua các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và học nghề để sớm quay trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên, tình trạng trục lợi bảo hiểm thất nghiệp đang trở thành một vấn đề nhức nhối, làm suy giảm tính nhân văn của chính sách và gây ra những hệ lụy tiêu cực cho xã hội. Hành vi này không chỉ gây thất thoát quỹ bảo hiểm thất nghiệp mà còn tạo ra sự bất bình đẳng, ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội. Việc nhận diện đúng và đủ các hành vi trục lợi là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng các giải pháp ngăn chặn hiệu quả.

1.1. Nhận diện các hành vi gian lận bảo hiểm thất nghiệp

Hành vi gian lận bảo hiểm thất nghiệp được biểu hiện dưới nhiều hình thức tinh vi. Phía người lao động, hành vi phổ biến nhất là cố tình che giấu việc đã có việc làm mới nhưng không khai báo để tiếp tục hưởng trợ cấp. Một số trường hợp khác là thỏa thuận ngầm với người sử dụng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động trên giấy tờ nhằm đủ điều kiện làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, sau đó lại quay về làm việc không chính thức. Về phía người sử dụng lao động, hành vi trục lợi thường là không khai báo hoặc chậm khai báo việc tuyển dụng lao động mới để trốn tránh nghĩa vụ đóng BHTN, hoặc thông đồng với người lao động để tạo hồ sơ hưởng sai quy định.

1.2. Ý nghĩa của chính sách an sinh xã hội BHTN hiện nay

Chính sách BHTN là một trụ cột quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với người lao động. Mục tiêu chính của chính sách là bù đắp một phần thu nhập, giúp người lao động ổn định cuộc sống trong thời gian tìm kiếm việc làm mới. Ngoài ra, quỹ BHTN còn hỗ trợ học nghề, nâng cao kỹ năng để người lao động thích ứng với yêu cầu mới của thị trường. Việc bảo vệ quỹ và đảm bảo chính sách được thực thi đúng đối tượng, đúng mục đích là nhiệm vụ cấp thiết để duy trì sự bền vững và công bằng của hệ thống an sinh xã hội quốc gia.

II. Thực trạng trục lợi bảo hiểm thất nghiệp hệ lụy khôn lường

Thực trạng trục lợi bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam đang diễn ra phức tạp, gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ về mặt tài chính mà còn về mặt xã hội. Các hành vi gian lận, dù vô tình hay cố ý, đều trực tiếp làm xói mòn nguồn quỹ BHTN, vốn được đóng góp bởi chính những người lao động chân chính và doanh nghiệp. Luận văn của Ngô Huỳnh Duy Lâm cho thấy, chỉ trong giai đoạn 2010-2019 tại Ninh Thuận đã có 241 trường hợp trục lợi bị phát hiện, cho thấy vấn đề này không chỉ là cá biệt mà đã trở thành một hiện tượng đáng báo động. Nếu không có biện pháp ngăn chặn quyết liệt, nguy cơ mất cân đối quỹ là hiện hữu, đe dọa sự ổn định của cả hệ thống.

2.1. Các hình thức lạm dụng quỹ BHTN từ người lao động

Hành vi lạm dụng quỹ BHTN từ phía người lao động rất đa dạng. Hình thức phổ biến nhất là không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hàng tháng hoặc đã có việc làm nhưng không khai báo với Trung tâm Dịch vụ việc làm. Một số khác lợi dụng quy định về thời hạn nộp hồ sơ (03 tháng sau khi nghỉ việc) để tìm việc mới trong thời gian này, sau đó vẫn nộp hồ sơ để hưởng trợ cấp. Thực tế tại Ninh Thuận cho thấy, "những trường hợp gian lận chỉ bị phát hiện khi họ đã làm việc chính thức, đóng BHXH ở nơi làm việc mới... Khi đó, rất nhiều trường hợp đã trục lợi được vài tháng tiền TCTN rồi" (Lê Minh Cảnh, Giám đốc Trung tâm DVVL Ninh Thuận). Điều này cho thấy sự thiếu tự giác và ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận người lao động.

2.2. Sự thông đồng giữa người lao động và người sử dụng lao động

Một hình thức trục lợi tinh vi hơn là sự thông đồng giữa người lao độngngười sử dụng lao động. Doanh nghiệp có thể giúp người lao động hoàn thiện hồ sơ chấm dứt hợp đồng để hưởng BHTN, sau đó nhận lại họ làm việc bán thời gian hoặc không đóng BHXH trong một thời gian. Cả hai bên đều có lợi: người lao động nhận được tiền trợ cấp, còn doanh nghiệp giảm được chi phí đóng bảo hiểm. Hành vi này không chỉ là trục lợi chính sách an sinh xã hội mà còn tạo ra một môi trường cạnh tranh không lành mạnh và làm méo mó thị trường lao động.

2.3. Hậu quả gây thất thoát quỹ bảo hiểm thất nghiệp nghiêm trọng

Hệ lụy trực tiếp và rõ ràng nhất của việc trục lợi là gây thất thoát quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Báo cáo của Bộ LĐTBXH cho thấy chỉ trong hai năm 2015-2016, cả nước đã phải ra quyết định thu hồi hơn 70 tỷ đồng chi sai quy định. Tại Ninh Thuận, tổng số tiền cần thu hồi từ 241 trường hợp lên tới 1,5 tỷ đồng. Việc thất thoát này làm giảm nguồn lực hỗ trợ những người lao động thực sự cần, đồng thời tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc cân đối quỹ. Về lâu dài, nó có thể làm suy yếu niềm tin của người dân vào các chính sách an sinh xã hội.

III. Phương pháp chống trục lợi BHTN bằng khung pháp lý chặt chẽ

Để giải quyết tận gốc vấn đề, việc xây dựng và hoàn thiện một hành lang pháp lý vững chắc là giải pháp tiên quyết. Pháp luật cần phải đủ mạnh để răn đe, đủ rõ ràng để thực thi và đủ linh hoạt để bịt kín các kẽ hở mà các đối tượng có thể lợi dụng. Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan, nhưng thực tiễn cho thấy vẫn cần những điều chỉnh mạnh mẽ hơn. Việc tăng cường các chế tài xử phạt trục lợi BHTN, từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự, là công cụ cần thiết để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ nguồn quỹ an sinh chung của toàn xã hội.

3.1. Phân tích Nghị định 28 2015 NĐ CP và Nghị định 61 2020

Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn như Nghị định 28/2015/NĐ-CP (sau này được sửa đổi bởi Nghị định 61/2020/NĐ-CP) đã quy định chi tiết về điều kiện hưởng, quy trình hồ sơ và các trường hợp tạm dừng, chấm dứt hưởng trợ cấp. Các quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan bảo hiểm xã hội và Trung tâm Dịch vụ việc làm thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, một số quy định vẫn còn kẽ hở, ví dụ như quy định tại Khoản 4, Điều 21 Nghị định 28/2015/NĐ-CP cho phép người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp vào những ngày của tháng đang hưởng vẫn được hưởng trọn tháng đó, tạo điều kiện cho việc trục lợi trong tháng cuối cùng.

3.2. Áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính hiệu quả

Các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đã được nêu trong Nghị định 95/2013/NĐ-CP và sau đó là Nghị định 88/2015/NĐ-CP. Mặc dù mức phạt đã được tăng lên, nhưng theo ông Hà Văn Châu, Phó Giám đốc BHXH Ninh Thuận, "đến nay trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận hầu như chưa xử phạt được NLĐ nào, BHXH tỉnh hiện chỉ cố gắng thu hồi phần TCTN đã lỡ chi mà còn chưa thu đủ". Điều này cho thấy tính khả thi trong việc áp dụng chế tài còn thấp. Cần có cơ chế cưỡng chế và thu hồi tiền phạt hiệu quả hơn, đồng thời công khai danh tính các cá nhân, tổ chức vi phạm để tăng tính răn đe.

3.3. Cân nhắc truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi gian lận

Đối với các hành vi gian lận có tổ chức, quy mô lớn hoặc tái phạm nhiều lần, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, việc truy cứu trách nhiệm hình sự là cần thiết. Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã có các tội danh liên quan đến gian lận BHXH, BHTN (Điều 214, 215). Tuy nhiên, cần có văn bản hướng dẫn chi tiết hơn để các cơ quan tố tụng có cơ sở vững chắc khi khởi tố, điều tra và xét xử, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và xử lý đúng người, đúng tội, tạo ra sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật.

IV. Cách hạn chế trục lợi BHTN qua phối hợp liên ngành công nghệ

Bên cạnh khung pháp lý, giải pháp quan trọng không kém là nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý. Sự rời rạc, thiếu kết nối dữ liệu giữa ngành Lao động - Thương binh và Xã hội với cơ quan Bảo hiểm xã hội là một trong những nguyên nhân chính tạo ra kẽ hở cho các hành vi trục lợi. Chỉ khi có một cơ chế phối hợp chặt chẽ, thông suốt và một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ, việc phát hiện và ngăn chặn các hành vi hưởng BHTN sai quy định mới thực sự hiệu quả và kịp thời.

4.1. Tăng cường thanh tra kiểm tra BHTN giữa các cơ quan

Công tác thanh tra, kiểm tra BHTN cần được thực hiện thường xuyên và đột xuất, không chỉ tại các doanh nghiệp mà còn trong quy trình nội bộ của các cơ quan thực thi. Cần xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa Sở LĐTB&XH, BHXH, Cục Thuế và các đơn vị liên quan để đối chiếu dữ liệu về lao động, tiền lương. Việc chia sẻ thông tin về doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp nợ đọng BHXH, và danh sách lao động biến động sẽ giúp nhanh chóng phát hiện các dấu hiệu bất thường, từ đó tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.

4.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông đồng bộ

Giải pháp căn cơ và lâu dài là xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động - việc làm, liên thông với cơ sở dữ liệu về BHXH và dân cư. Khi người lao động có việc làm mới, thông tin của họ sẽ ngay lập tức được cập nhật trên toàn hệ thống, tự động gửi cảnh báo đến Trung tâm Dịch vụ việc làm nơi họ đang hưởng trợ cấp. BHXH Việt Nam đã và đang triển khai các phần mềm quản lý tập trung, tuy nhiên cần đẩy nhanh tiến độ và đảm bảo tính chính xác, đồng bộ của dữ liệu để hệ thống này thực sự phát huy hiệu quả trong việc chống lạm dụng quỹ BHTN.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/10/2025
Luận văn ngành luật vấn đề trục lợi bảo hiểm thất nghiệp ở việt nam hiện nay qua thực tiễn tại ninh thuận

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 là nội dung cơ sở pháp lý về BHTN và nhận diện hành vi trục lợi BHTN. Trong chương 2, thông qua thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận, tác giả sẽ trình bày pháp luật chống trục lợi BHTN và tình hình trục lợi đã diễn ra trên cả nước nói chung và tại địa bàn Ninh Thuận nói riêng. Với chương 3, tác giả kiến nghị các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trục lợi BHTN thông qua các đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật chưa hoàn thiện. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BHTN VÀ NHẬN DIỆN HÀNH VI TRỤC LỢI BHTN 1.

Cơ sở pháp lý về Bảo hiểm thất nghiệp: 1. Khái quát về Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 1. Khái niệm về Bảo hiểm thất nghiệp Thuật ngữ “Bảo hiểm thất nghiệp” gồm hai thành tố: “bảo hiểm” và “thất nghiệp”. Để làm rõ khái niệm BHTN là gì, chúng ta thử tìm hiểu từng thành tố được định nghĩa như thế nào? Bảo hiểm4 là trợ giúp hay đền bù về vật chất khi đau ốm, tai nạn, trong trường hợp đương sự tham gia hoạt động bảo hiểm.

Dưới góc độ kinh tế học, bảo hiểm là một hệ thống các quan hệ kinh tế điều chỉnh sự hình thành, việc phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, biến cố xảy ra. Bằng cách mỗi người trong cộng đồng có thể gặp rủi ro cùng loại - cùng nhau đóng góp một khoản phí vào quỹ chung, khi có một người hay nhóm người gặp rủi ro, bảo hiểm sẽ bù đắp thiệt hại (về tài chính, tài sản, nhân mạng,.) cho họ bằng một khoản tiền mặt. Thông qua phí bảo hiểm, bảo hiểm được xem như là một công cụ chuyển giao các rủi ro tiềm năng từ một cá nhân sang cộng đồng một cách công bằng. Thất nghiệp5 là không có việc làm để sinh sống.

Trong kinh tế học, thất nghiệp được hiểu là tình trạng NLĐ muốn có việc làm mà không tìm được việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số NLĐ không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội tại một thời điểm. Thất nghiệp chính là hệ quả của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Như vậy, BHTN được hiểu một cách đơn giản là một khoản bù đắp tài chính cho NLĐ gặp rủi ro khi bị mất việc làm.

Ở Việt Nam hiện nay, BHTN là một chế độ dành cho NLĐ được quản lý, điều hành và triển khai thực hiện bởi ngành LĐTBXH và Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 4 Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, NXB ĐH Quốc gia TPHCM năm 2011, trang 78 5 Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, NXB ĐH Quốc gia TPHCM năm 2011, trang 1484 21 Sau khi chuyển từ nền kinh tế bao cấp tập trung sang nền kinh tế thị trường và bước vào hội nhập với kinh tế thế giới, bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế – xã hội, thì tình trạng thất nghiệp đang là một trong những vấn đề nan giải và hết sức bức xúc ở nước ta. Hàng năm cả nước có hơn 01 triệu người bước vào tuổi lao động, số lượng lao động trong độ tuổi mỗi năm tăng thêm hơn 400 ngàn người6, nhưng khả năng đáp ứng vị trí việc làm của nền kinh tế lại có hạn. Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế; đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, một bộ phận không nhỏ NLĐ do nhiều nguyên nhân khác nhau đã bị mất việc làm, đời sống khó khăn, ảnh hưởng đến ASXH.

BHTN ra đời để góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho NLĐ được học nghề, tìm việc làm mới. BHTN giúp giảm gánh nặng chi cho ngân sách Nhà nước và DN7. BHTN không những hỗ trợ một khoản tài chính để NLĐ đảm bảo ổn định cuộc sống trong thời gian mất việc mà còn thông qua các hoạt động tư vấn - giới thiệu việc làm, đào tạo và đào tạo lại nghề nghiệp nhằm giúp cho NLĐ thất nghiệp sớm tìm được việc làm mới ổn định và phù hợp. Vậy, Bảo hiểm thất nghiệp là loại bảo hiểm đảm bảo những quyền lợi mà NLĐ có tham gia sẽ được hưởng khi thất nghiệp.

Quyền lợi BHTN mà NLĐ sẽ nhận là được trả tiền mặt khi mất việc. Ngoài ra, còn bao gồm cả BHYT và hỗ trợ chi phí đào tạo nghề trong quãng thời gian NLĐ tìm công việc mới. Ý nghĩa của Bảo hiểm thất nghiệp BHTN không chỉ là công cụ giải quyết vấn đề thất nghiệp trong xã hội mà còn là chính sách giúp ổn định xã hội một cách tốt nhất. Đồng thời, BHTN có chức năng bảo vệ, bù đắp những tổn thất về mặt tài chính cho NLĐ và giúp họ có khả năng cũng như cơ hội quay lại thị trường việc làm.

Bên cạnh đó, BHTN còn có chức năng hạn chế “sự ỷ lại” của NLĐ vào các chính sách ASXH của Nhà nước, khuyến khích họ chăm chỉ làm việc, sẵn sàng làm việc. 6 Nguồn số liệu từ “Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam” quý I/2019, do Bộ LĐTBXH công bố ngày 10/7/2019 7 Trước khi có BHTN, NLĐ mất việc nhận trợ cấp mất việc làm từ ngân sách hoặc từ NSDLĐ 22 Ngoài những lợi ích nêu trên thì BHTN vừa đóng vai trò quan trọng đối với DN, vừa đóng vai trò tối ưu đối với Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề xã hội. Nhờ có BHTN, khi NLĐ bị mất việc, chủ doanh nghiệp không tốn phí trợ cấp thôi việc cho NLĐ nên họ sẽ tiết kiệm chi phí và chủ động trong sử dụng nguồn lao động, tạo động lực phát triển sản xuất. Cũng nhờ có BHTN mà gánh nặng ngân sách của Nhà nước được giảm bớt khi có thất nghiệp xảy ra.

Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp Pháp luật về BHTN được quy định cụ thể tại các văn bản: Luật Việc làm năm 2013; Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ và Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTBXH. Đối tượng tham gia Người lao động và người sử dụng lao động theo Điều 43, Luật Việc làm năm 20138. Loại trừ các đối tượng không thuộc diện tham gia sau đây: - Những người đang hưởng lương hưu hàng tháng hoặc đang nhận trợ cấp mất sức lao động hàng tháng nhưng tiếp tục có sự giao kết HĐLĐ với NSDLĐ9. - NLĐ là giúp việc gia đình.

- Chủ doanh nghiệp. 8 Điều 43, Luật Việc làm 2013, “Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau: (a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;(b) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;(c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng. Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều này”.

9 “Người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này đang hưởng lương hưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp.” 10 “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP. 23 - NLĐ là công dân nước ngoài11. Mức đóng - NLĐ: Đóng bằng 1% số tiền lương, tiền công hàng tháng theo HĐLĐ (do NSDLĐ trích nộp thay). - NSDLĐ: Đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công theo HĐLĐ của những NLĐ đang tham gia BHTN.

Đồng thời còn phải trích tiền lương, tiền công của từng NLĐ để cùng đóng một lúc vào Quỹ BHTN. - Đối với Nhà nước: Hỗ trợ từ 0,5 - 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng BHTN của những NLĐ tham gia BHTN, được trích từ ngân sách và mỗi năm sẽ chuyển một lần vào Quỹ BHTN. Điều kiện hưởng Người lao động quy định tại Khoản 1, Điều 43 của Luật Việc làm năm 2013 đang đóng BHTN được hưởng TCTN khi có đủ bốn điều kiện sau đây: (1) Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc (gọi chung là HĐLĐ), trừ hai trường hợp: - NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật; - Chấm dứt HĐLĐ để hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng. (2) Đã đóng BHTN từ đủ: - 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với các loại HĐLĐ có xác định và không xác định thời hạn; - 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với các loại HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

(3) Đã đăng ký thất nghiệp và nộp hồ sơ hưởng trợ cấp tại Trung tâm DVVL. (4) Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ sáu trường hợp: - Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; 11 Người lao động là công dân nước ngoài Luật chưa điều chỉnh. 24 - Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; - Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; - Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù; - Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; - NLĐ chết. Chế độ hưởng - Mức hưởng TCTN hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng: + Tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ