Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG CÁC CHƢƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý Thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ 20, xuất phát từ tiếng Anh là "legal aid". Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1997 thì "legal aid" có nghĩa là "trợ cấp pháp lý" [33]. Trong Từ điển pháp luật Anh - Việt, Nhà xuất bản Thế giới do Nguyễn Thành Minh chủ biên, 1998 thì "legal aid" trong cụm từ "legal aid schem" có nghĩa là "bảo trợ tư pháp".
Ngoài ra, trong một số tài liệu khác còn gọi là "hỗ trợ pháp luật", "hỗ trợ pháp lý" hoặc "hỗ trợ tư pháp". Theo Đại Từ điển Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 1998 thì "trợ giúp" là "sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến". Trong Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của Giáo sư Nguyễn Lân, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 giải thích: trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công. Như vậy, có nhiều cách gọi khác nhau về thuật ngữ này nhưng cụm từ "trợ giúp" có nghĩa chung nhất, bao hàm nội dung sự "giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ".
Ở Việt Nam, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng trong các tài liệu từ năm 1995, khi bắt đầu nghiên cứu xây dựng Đề án về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Đến năm 1996, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay" của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp. Năm 1997, thuật ngữ này được sử dụng trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tượng chính sách. Năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý đã có quy định chính thức về khái niệm trợ giúp pháp lý: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [42, Điều 3].
Đặc điểm của trợ giúp pháp lý - Trợ giúp pháp lý là một loại dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, có đầy đủ những đặc trưng của dịch vụ công như: được xác định là một trong những chức năng xã hội của Nhà nước và là trách nhiệm của Nhà nước; đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý là những người yếu thế, không có đủ điều kiện tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu, cần có sự trợ giúp của Nhà nước; các chi phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu do ngân sách Nhà nước bảo đảm. - Trợ giúp pháp lý là một loại hình dịch vụ pháp lý, do những người có trình độ am hiểu pháp luật thực hiện trên cơ sở pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu giúp đỡ pháp luật của người nghèo và đối tượng chính sách thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại… Trợ giúp pháp lý được coi là một loại hình dịch vụ pháp lý nói chung bởi hình thức và phương thức thực hiện tương tự như dịch vụ pháp lý nói chung. Điểm khác biệt ở đây là trợ giúp pháp lý có đối tượng, phạm vi, lĩnh vực trợ giúp, tổ chức, người thực hiện hẹp hơn; trợ giúp pháp lý của Nhà nước được thực hiện theo một trình tự, thủ tục khác so với trình tự, thủ tục thực hiện dịch vụ pháp lý chung do tổ chức và cá nhân khác thực hiện. Người thụ hưởng trợ giúp pháp lý không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí nào.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Trợ giúp pháp lý còn là một dịch vụ pháp lý chứa đựng tính nhân văn sâu sắc, bởi mục tiêu hướng tới, đối tượng phục vụ là những người có hoàn cảnh đặc biệt cần phải được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ. Sự hỗ trợ này sẽ làm giảm bớt những khó khăn của nhóm đối tượng yếu thế, góp phần tạo sự công bằng trong xã hội; - Trợ giúp pháp lý mang tính pháp lý, thể hiện qua phương thức hoạt động và mục đích hướng tới của nó. Tính chất pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý thể hiện ở chỗ, trợ giúp pháp lý là một trong các biện pháp thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống bởi Nhà nước phải có trách nhiệm tạo ra các cơ chế để giúp người dân biết các quy định pháp luật để thực hiện, sử dụng, tuân thủ trong cuộc sống để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đặc biệt, khi Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật và giải quyết các vấn đề phát sinh hàng ngày trên cơ sở pháp luật thì yêu cầu cần phải giúp cho người dân hiểu biết pháp luật trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
- Trợ giúp pháp lý thể hiện tính chính trị - xã hội: Trợ giúp pháp lý được xác định là trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, thuộc chức năng xã hội của Nhà nước nhằm góp phần khắc phục sự bất bình đẳng trong tiếp cận với pháp luật và xóa nghèo về pháp luật. Thông qua đó, góp phần thiết lập sự ổn định chính trị, bảo vệ chế độ chính trị và các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước, làm tăng niềm tin của người dân vào chế độ. Trợ giúp pháp lý là một trong những phương thức có hiệu quả để Nhà nước giải quyết các mối quan hệ xã hội đang có sự bất ổn, giữ đoàn kết cộng đồng, bảo đảm ổn định trật tự và an toàn xã hội. Ngƣời đƣợc trợ giúp pháp lý Theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý bao gồm: - Người nghèo là người thuộc chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật.
Chuẩn nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng giai đoạn cho 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Chuẩn nghèo hiện nay được thực hiện theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015. - Người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng; Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ chưa đủ 18 tuổi; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ. Đây là những người đã có nhiều cống hiến về sức lực, tài năng, trí tuệ và cả tính mạng của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế trong thời chiến cũng như trong thời bình, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật.
Phần lớn những đối tượng này gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống do bị ảnh hưởng của thương tật, suy giảm sức khỏe và khả năng lao động (thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh), mất chỗ dựa chính trong gia đình (thân nhân liệt sĩ),… Chỉ một bộ phận nhỏ trong số họ có thu nhập ổn định. Với loại đối tượng này, chính sách trợ giúp pháp lý của Nhà nước chủ yếu thể hiện sự ưu tiên, ưu đãi, sự biết ơn đối với những cống hiến của họ chứ không căn cứ vào điều kiện thu nhập. - Người già cô đơn không nơi nương tựa: là những người từ 60 tuổi trở lên, sống một mình và không có người chăm sóc, phụng dưỡng. - Người tàn tật không nơi nương tựa: là những người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học tập gặp nhiều khó khăn mà không có ai nuôi dưỡng, chăm sóc hoặc là người bị nhiễm chất độc hóa học, bị nhiễm HIV hoặc bị các bệnh khác làm mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơi nương tựa.
- Trẻ em không nơi nương tựa: là người dưới 16 tuổi, không có gia đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếm sống hoặc có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng. - Người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật. Ngày 05/3/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn làm căn cứ thực hiện một số chế độ, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, xóa đói, giảm nghèo nhằm cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giảm sự chênh lệch về trình độ phát triển so với các vùng khác trong cả nước. Các dân tộc thiểu số sinh sống ở tất cả các vùng, miền của đất nước, nhưng tập trung phần lớn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, bị cô lập về mặt địa lý, thiếu điều kiện phát triển về hạ tầng cơ sở và các dịch vụ xã hội cơ bản.
Thu nhập của đồng bào chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.