CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI KHÁC 1. Khái niệm và pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác ở Việt Nam 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” là một cụm từ ghép “trợ giúp” và “pháp lý”. Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2001, thì “trợ giúp” được hiểu là “giúp đỡ” [54, tr.767], pháp lý tức là "nguyên lý về pháp luật" [54, tr.
Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 thì “trợ giúp” là “giúp đỡ" như nông dân bị mất mùa do lũ lụt, Nhà nước cấp lúa giống, con giống cho nông dân để tiếp tục sản xuất không thu tiền [31, tr.1923], còn về “pháp lý” là “nguyên lý của pháp luật” [31, tr. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hoá - Thông tin, 1999, thì “trợ giúp” hiểu là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem lại cho ai cái gì, đang lúc khó khăn, đang lúc cần đến”, thuật ngữ “pháp lý” [55, tr.456] được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát pháp lý là lí luận; theo Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, 2006, thì pháp lý: những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một quốc gia, “pháp lý” chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm lý luận về pháp luật [48, tr. Do vậy, dù là “giúp đỡ”, “bảo trợ” hay là “hỗ trợ” cũng có thể được hiểu là “trợ giúp”. Ở đây trợ giúp được hiểu là sự giúp đỡ cho ai đó đang gặp khó khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một vấn đề mà họ đang cần, cái họ đang cần ở đây là “pháp lý”.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động TGPL cho người nghèo, người yếu thế đã được hình thành và phát triển từ lâu và được coi là một loại hình hoạt động thuộc chức năng xã hội của nhà nước, là một trong những yếu tố đảm bảo quyền con người trong nhà nước pháp quyền. Tổ chức và hoạt động TGPL của các nước trên thế giới rất phong phú và đa dạng về mô hình tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động. Sự phong phú, đa dạng đó xuất phát từ những đặc điểm riêng về điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia; về những quan niệm và cách tiếp cận giải quyết các vấn đề của TGPL như: đối tượng, phạm vi, phương thức và chi phí cho các hoạt động TGPL. Mặc dù có những sự khác biệt đáng kể về cách tiếp cận và xác định nội hàm của khái niệm TGPL nhưng nhìn chung, các quan điểm đều hàm chứa tính chất chung của TGPL là hoạt động mang tính kinh tế, pháp lý, xã hội và nhân đạo.
Tính kinh tế thể hiện ở khía cạnh là việc cung cấp những dịch vụ pháp lý miễn phí, nhằm giúp đỡ người khó khăn, yếu thế không có đủ khả năng tài chính, năng lực để tự mình giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật để bảo vệ lợi ích của mình trước pháp luật. Tính pháp lý của TGPL thể hiện ở chỗ giúp đỡ, hỗ trợ cho các đối tượng được TGPL để giải quyết các vụ việc có liên quan đến pháp luật như tư vấn, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật quy định. Tính xã hội và nhân đạo thể hiện ở chỗ, tạo cơ hội cho những người được TGPL có điều kiện tham gia vào các quan hệ pháp luật, thể hiện quan điểm và chính kiến của mình về các vấn đề pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách hợp lý, hợp pháp và chính đáng. Thông qua các hoạt động TGPL và những kết quả đạt được trong quá trình đó người được TGPL sẽ cảm nhận được những giá trị của pháp luật, sức mạnh và sự công bằng của công lý, từ đó có niềm tin vào công lý và vào chính bản thân mình.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam, dưới chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân nửa phong kiến, nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” chưa được xác lập, do vậy, không có cơ sở lý luận và pháp lý cho sự ra đời của TGPL. Hoạt động TGPL chỉ bắt đầu được thực hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước kiểu mới, Nhà nước Dân chủ nhân dân (năm 1945) với tên gọi “tư pháp bảo trợ” gắn với quy định về bảo đảm quyền bào chữa khi “người bị can, bị cáo” không tự mình bào chữa được. Nhưng các quy định này còn thiếu biện pháp bảo đảm để tổ chức thực hiện. Đồng thời, do điều kiện đất nước có chiến tranh nên tồn tại không lâu.
Khái niệm TGPL lần đầu xuất hiện ở nước ta từ năm 1995, khi Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng Dự án phát triển TGPL ở Việt Nam và chính thức đưa vào văn bản pháp luật là Quyết định số 734/TTg này 6/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ. Khi Bộ Tư pháp thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ “Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay” năm 1999 đã đưa ra khái niệm TGPL như sau: Theo nghĩa rộng, TGPL là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội. Theo nghĩa hẹp, TGPL là sự giúp đỡ của các tổ chức TGPL của Nhà nước cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội [52, tr. Hướng tiếp cận này được phát triển và hoàn thiện hơn trong những năm gần đây.
Theo nghĩa rộng, TGPL là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định thông qua hoạt động 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Theo nghĩa hẹp TGPL là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức TGPL của Nhà nước cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác theo lĩnh vực, phạm vi trợ giúp do pháp luật quy định [53, tr. Tại Điều 3 Luật TGPL năm 2006 đưa ra khái niệm TGPL như sau: “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật” [36, tr. Như vậy, trên cơ sở các quan điểm về TGPL và căn cứ vào Điều 3 Luật TGPL 2006, có thể khái niệm TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác như sau: TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí theo quy định của Luật TGPL dưới các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hòa giải.
nhằm giúp những người này tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, qua đó họ có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Về cơ bản, tôi đồng ý với khái niệm về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác nêu trên. Khái niệm này đã đề cập đến mục đích và ý nghĩa của hoạt động TGPL là sự giúp đỡ miễn phí, tạo cho mọi 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội. Khái niệm trên cũng bao hàm tương đối đầy đủ về phạm vi, chủ thể, đối tượng của hoạt động TGPL và đã thể hiện được một cách toàn diện những thuộc tính chung, bản chất của hoạt động TGPL ở Việt Nam.
Khái niệm người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác với tính cách là những người thụ hưởng trợ giúp pháp lý 1. Người nghèo Tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực này đưa ra định nghĩa về nghèo đói: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [18, tr. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Côpenhaghen – Đan Mạch (1995) đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 USD/ ngày, là số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại. Theo đó, Ngân hàng Thế giới đã từng đưa ra chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các nước, dựa vào GDP hằng năm quy ra USD.
Tuy nhiên, cách đánh giá này cũng chỉ mang tính tương đối và có hạn chế nhất định, bởi vì không phải bất cứ nước nào có GDP cao là hết nghèo đói.