phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết. 15 Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦATRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN LOCKE 1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH CỦA TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN LOCKE 1. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội hình thành triết học chính trị John Locke Nội dung và đặc điểm của triết học chính trị J.Locke được hình thành dưới tác động của các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội nước Anh và Tây u thế kỷ XVII.
Trong sự phát triển Tây u cận đại, giai đoạn Anh có ý nghĩa đặc biệt, góp phần to lớn vào sự biến đổi không chỉ diện mạo châu u mà cả diện mạo của thế giới.Locke nắm bắt được những biến đổi trong đời sống kinh tế, chính trị - xã hội của nước Anh cũng như của Tây u thời ấy, từ đó xây dựng một triết lý chính trị phản ánh trung thực những biến đổi của thực tiễn, đồng thời gợi mở những ý tưởng tích cực cho quá trình phát triển xã hội. Điều kiện kinh tế của nước Anh vào thế kỷ XVII Những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế của nước Anh được bắt đầu từ rất sớm, ngay cuối thời trung cổ, khi công xưởng thủ công hình thành, thay thế phường hội, và tiếp đó là quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản chủ nghĩa. Đến thế kỷ XVII, sự phát triển của ngành công – thương nghiệp ở nước Anh cùng sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông nghiệp đã tạo nên những thay đổi rõ rệt trong đời sống xã hội nói chung và kinh tế nói riêng. Ngay từ thế kỷ XVI, nhiều ngành sản xuất ở nước Anh đã sử dụng hình thức công trường thủ công phân tán.
Đến thế kỷ XVII, nhiều ngành sản xuất đã tiến lên giai đoạn công trường thủ công tập trung quy mô lớn với hàng ngàn người lao động làm thuê. Hình thức lao động sản xuất tập trung với quy mô lớn đã làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm được làm ra không những đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn phục vụ cho mục đích xuất khẩu ra nước ngoài. Thông qua sự bóc lột tàn nhẫn người lao động làm thuê, tài sản của những phần tử thuộc tầng lớp trên trong những hội ngành nghề, tức là giới chủ của các công trường thủ công 16 cũng tăng lên nhanh chóng. Từ đó, họ không ngừng đầu tư cải tiến công cụ lao động, đổi mới phương pháp sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh.
Chính vì vậy, công trường thủ công của họ đã dần dần mang tính chất công trường thủ công tư bản chủ nghĩa. Sự thay đổi về quy mô và phương pháp sản xuất đã thúc đẩy ngành công nghiệp nước Anh phát triển vượt bậc so với những thời kỳ trước, bất chấp những rào cản do chế độ quân chủ chuyên chế ở nước Anh cố tình tạo ra. Trong khoảng 100 năm (1551 – 1651), sản lượng khai thác than của nước Anh tăng lên 14 lần. Đến giữa thế kỷ XVII, sản lượng khai thác than của nước Anh chiếm 4/5 sản lượng than đá toàn châu u.
Cùng trong thời gian này, việc khai thác quặng sắt tăng hai lần, kẽm, đồng, chì, muối tăng 6 - 8 lần. Nghề đóng tàu, sản xuất đồ gốm và kim khí cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Đáng chú ý nhất là ngành công nghiệp dệt len. Đây là một ngành sản xuất lâu đời ở nước Anh và đến thế kỷ XVII đã lan rộng ra toàn quốc.
Năm 1614, việc xuất khẩu len dạng thô bị cấm. Nhờ đó công nghiệp dệt len tăng lên mạnh mẽ và nước Anh trở thành nước chủ yếu cung cấp hàng hóa bằng len cho toàn bộ thị trường châu u. Bên cạnh các ngành sản xuất truyền thống, trong nền kinh tế Anh đã xuất hiện những ngành sản xuất mới như bông, giấy, tơ lụa, thủy tinh, xà phòng … Thương nghiệp cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn nhờ sự phát triển của các công trường thủ công và sự bành trướng của ngành hàng hải. Thương nhân Anh mở rộng buôn bán với thị trường thế giới, thành lập hàng loạt công ty thương mại (tiêu biểu nhất là công ty “Đông Ấn Độ” được thành lập vào năm 1600), đặt nhiều thương điếm hoạt động rộng khắp từ Baltique đến châu Phi, từ Trung Quốc đến châu Mỹ và cạnh tranh kịch liệt với thương nhân Hà Lan, Pháp.
Đến thời kỳ cách mạng tư sản Anh, sự lưu thông về ngoại thương đã tăng gấp hai lần so với đầu thế kỷ XVII. Sự phát triển của công – thương nghiệp cũng đã thúc đẩy ngành tài chính phát triển theo. Ngay từ năm 1568, sở giao dịch của chính phủ Anh được thành lập và có tầm ảnh hưởng rộng khắp châu u. Đến thế kỷ XVII, các ngân hàng ở nước Anh phát triển nhanh chóng, thực hiện chức năng cho các tư nhân gửi tiền, vay tiền và mở tài khoản tín dụng đối ngoại và nghiệp vụ chuyển đổi tiền tệ giữa các nước.
17 Tốc độ phát triển của công nghiệp và sự gia tăng tài sản của các nhà tư bản tỷ lệ nghịch với đời sống của công nhân làm thuê trong các công trường thủ công. Đời sống của người công nhân rất nghèo khổ, tiền lương không đủ đảm bảo những nhu cầu cơ bản của cuộc sống vì họ phải chịu tình cảnh “một cổ hai tròng”: vừa bị giai cấp tư sản bóc lột, vừa bị chế độ phong kiến áp bức. Mặc dù công - thương nghiệp đã có những bước phát triển đáng kể nhưng nước Anh đến đầu thế kỷ XVII về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp. Nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.
Đến năm 1665, tư bản nông nghiệp của nước Anh bao gồm ruộng đất, nhà cửa và nông cụ có tổng giá trị là 210 triệu bảng Anh, trong khi đó, giá trị tư bản của các ngành khác (kể cả công, thương nghiệp) chỉ tương đương 40 triệu bảng Anh. Trong số 5 triệu rưỡi cư dân nước Anh lúc bấy giờ, chỉ có 1/5 ở thành thị, còn 4/5 ở nông thôn. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XV, phong trào khoanh chiếm ruộng đất do giới địa chủ khởi xướng đã diễn ra tại các vùng nông thôn rộng lớn ở phía đông và phía đông nam nước Anh. Đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ VII, do giá cả lương thực, thực phẩm cùng nhu cầu về nguyên liệu cho ngành công nghiệp dệt len tăng cao dẫn đến nhu cầu thành lập các nông trường quy mô lớn để chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp và cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp tăng vọt.
Đồng thời, do sự chênh lệch ngày càng lớn giữa địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa nên giới địa chủ đã đẩy mạnh phong trào khoanh chiếm ruộng đất một cách quyết liệt. Phong trào khoanh chiếm ruộng đất đã dẫn đến những hệ quả to lớn: thứ nhất, nó làm cho những người trực tiếp sản xuất trong nông nghiệp (nông dân) và tư liệu sản xuất (ruộng đất) bị tách rời nhau, khiến nước Anh trở thành một quốc gia điển hình trong việc tích lũy tư bản nguyên thủy. Những nông dân bị tước đoạt ruộng đất trở thành nguồn cung cấp sức lao động cho các nhà tư bản công nghiệp, đồng thời tạo ra thị trường cho công nghiệp; thứ hai, xóa bỏ tính tự cấp tự túc, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ – vốn là đặc trưng của nền kinh tế phong kiến lạc hậu, đưa đến sự xuất hiện nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông thôn nước Anh. Giới địa chủ sau khi khoanh chiếm đất đai vẫn thường đem số đất chiếm được cho nhà tư bản nông nghiệp thuê.
Địa tô mà địa chủ thu được từ việc cho những nhà tư bản nông nghiệp thuê ruộng đất không phải là địa tô phong 18 kiến nữa mà là địa tô tư bản chủ nghĩa. Một số địa chủ tự sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp theo mô hình nông trường quy mô lớn, tương đương các công trường thủ công trong công nghiệp, qua đó, tự họ đã chuyển hóa thành nhà tư bản nông nghiệp. Tuy nhiên, phong trào khoanh chiếm đất đai cũng như sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông nghiệp chỉ mới giới hạn trong vùng phía tây nam và phía đông, đông nam nước Anh. Riêng vùng nông thôn phía bắc và tây bắc nước Anh, nền nông nghiệp truyền thống, lạc hậu vẫn còn tồn tại phổ biến.
Nông dân phải nộp tô cho địa chủ theo diện tích ruộng đất mà họ đang canh tác, cho dù chỉ canh tác trên đất đai hoang hóa vô chủ hay canh tác trên ruộng đất của công xã. Họ không được tự ý bán hoặc trao đổi phần đất của mình mà chỉ được truyền lại cho con cháu sau khi đã nộp tô kế thừa và được địa chủ cho phép. Ngoài địa tô, nông dân còn phải nộp rất nhiều loại thuế và phải làm phu dịch không công cho địa chủ. Đến thế kỷ XVII, vì ảnh hưởng của cuộc “cách mạng giá cả”, giá trị tiền tệ giảm sút nên nhiều địa chủ ở các vùng này đã tăng địa tô phong kiến lên gấp nhiều lần so với trước.
Do đó, tình trạng bóc lột nông dân càng diễn ra nặng nề hơn. Chính vì mức độ xâm nhập vào nông nghiệp của chủ nghĩa tư bản rất cao nên mặc dù công, thương nghiệp không phát triển bằng một số nước như Pháp, Hà Lan, nhưng sự phát triển chung của chủ nghĩa tư bản tại Anh giai đoạn thế kỷ XVII lại đạt được những thành tựu to lớn hơn các nước khác ở châu u. Thực tiễn phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thông qua sự phát triển của công, thương nghiệp và sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông nghiệp đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với phương thức sản xuất phong kiến vốn đang được bảo trợ bởi chế độ quân chủ chuyên chế thủ cựu. Đây là nguồn gốc cho những mâu thuẫn, xung đột gay gắt về giai cấp, chính trị, tôn giáo trong xã hội nước Anh lúc bấy giờ.
Những biến đổi mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh tế đã tác động sâu sắc đến những tư tưởng chủ đạo trong triết học chính trị của J. Để phản kháng lại chế độ quân chủ chuyên chế với chính sách phát triển kinh tế độc đoán, kìm hãm quyền tự do kinh doanh và sở hữu của người dân, J.Locke khẳng định quyền tự do, quyền sở hữu là những các quyền cơ bản của con người, đây là quyền tự nhiên thiêng liêng 19 do chúa trời ban tặng, vì vậy không một cá nhân nào có quyền tước đoạt hoặc xâm phạm (Locke, 2017, tr.