Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LÔ LÔ HOA Ở HUYỆN MÈO VẠC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về người Lô Lô ở Việt Nam và về trang phục 1. Tình hình nghiên cứu của tác giả nước ngoài Đối với các công trình nghiên cứu của các học giả ở trong nước và nước ngoài về người Lô Lô ở nước ta, theo kết quả tìn kiếm chưa đầy đủ tại một số thư viện như của chúng tội Thư viện Viện Dân tộc học, Thư viện quốc gia, Thư viện Trường Đại học quốc gia Hà Hội, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,. đã tìm thấy hơn 60 ấn phẩm từ trước đến nay viết về người Lô Lô ở Việt Nam.
Trong đó, chỉ có 3 ấn phẩm của tác giả người nước ngoài, chủ yếu do người Pháp viết từ những năm đầu thế kỷ XX; số ấn phẩm còn lại là của các học giả trong nước. Một trong các tác phẩm của học giả nước ngoài viết về tộc người Lô Lô ở Việt Nam có thể kể đến là “Étude sur les langues parlées par les populations de la haute rivière claire” (Nghiên cứu ngôn ngữ của cư dân vùng thượng lưu sông Chảy) của A. Bonifacy [102] đăng trên BEFEO, số 1 - 2, có nội dung viết về đặc điểm ngôn ngữ của tộc người Lô Lô ở tỉnh Hà Giang, do vậy tác giả chưa có điều kiện đề cập đến văn hóa vật chất trong đó có trang phục của người Lô ở nơi đây. Bên cạnh đó, đáng chú ý là hai tác phẩm: “Notions de grammaire Lo Lo” (Những khái niệm về ngữ pháp của người Lô Lô) [103] và “Notes sur les dialectes Lo-Lo” (Vài nét về thổ ngữ của người Lô-Lô) [104] của tác giả người Pháp M.
Alered Lietard đều được đăng tải ở trên Tạp chí BEFEO. Tuy nhiên, nội dung của cả hai ấn phẩm này vẫn chủ yếu đề cập đến ngôn ngữ của 13 tộc người Lô Lô, không có mục nào mang tính khảo tả về đặc điểm văn hóa tinh thần cũng như về sinh hoạt vật chất trong đó có các yếu tố trang phục truyền thống của tộc người này. Có thể nhận thấy, các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài về tộc người Lô Lô ở Việt Nam đã được thực hiện từ rất lâu, chủ yếu do các tác giả người Pháp nghiên cứu và cũng chỉ đề cập tới đặc điểm ngôn ngữ là chính, chưa có nghiên cứu nào nói tới các yếu tố văn hóa vật chất, trong đó có trang phục truyền thống của người Lô Lô ở nước ta. Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài cũng như học giả người Trung Quốc viết về người Di ở Trung Quốc có liên quan tới tộc người Lô Lô ở Việt Nam.
Tuy nhiên, người Di ở Trung Quốc là một dân tộc lớn không chỉ với dân số đông đúc mà trong lịch sử đã là chủ nhân của cố Vương quốc Nam Chiếu. Theo đó, người Di ở Trung Quốc hiện nay gồm nhiều tộc người nhỏ trong đó có tộc người Lô Lô ở Việt Nam, đặc biệt là còn được chia thành nhiều loại người di như Di Đen (Hắc Di), Di Trắng (Bạch Di)., thậm chí trong Di Trắng lại được chia ra Qu Nuo (Khúc Nặc), A jia (A Giáp), Xía xi xía lùo (Áp tây áp lạc),. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay đang rất nhạy cảm về vấn đề dân tộc và tôn giáo, tác giả luận án chưa lần nào được gặp người Di ở bên Trung Quốc, trong khi Trung Quốc đang ráo riết thực hiện chính sách biên giới mềm, các nhà khoa học Trung Quốc đang đi sâu nghiên cứu về các mối quan hệ giữa các dân tộc ở Trung Quốc với người đồng tộc ở nước ngoài để làm rõ về nguồn gốc lịch sử, nhóm máu huyết thống, sự tương đồng văn hóa,. nhằm tạo ra tình hình các tộc người đồng tộc ở ngoại quốc có ý thức hướng về chính quốc Trung Quốc.
Do đó, trong luận án này, nghiên cứu sinh (NCS) xin phép chỉ đề cập tới những công trình của học giả nước ngoài viết về người Lô Lô ở Việt Nam, mà không nhắc tới tộc người Di ở Trung Quốc, có nghĩa là không muốn làm 14 cho tộc người Lô Lô có dân số ít ở nước ta phải suy nghĩ về người đồng tộc đông đúc của họ ở bên Trung Quốc khi có điều kiện tìm đọc luận án này. Tuy nhiên, đáng lưu ý là một số nghiên cứu của học giả nước ngoài về trang phục, văn hóa trang phục và cách tạo ra trang phục rất có ích trong việc gợi mở cho nghiên cứu sinh về cách nhìn mới khi thực hiện đề tài luận án này. Chẳng hạn như công trình “The Book of Looms” (Cuốn sách của khung dệt) của Eric Broudy [100] đã chỉ ra cho chúng tôi có cách nhìn khi tiếp cận với quy trình tạo ra vải sợi nói riêng, trang phục truyền thống của tộc người nói chung không thể thiếu công đoạn dệt vải với công cụ chính là khung dệt. Trong khi đó, công trình “Dress and Ethnicity - Change Across Space and Time” (Ăn mặc và sắc tộc - Thay đổi không gian và thời gian) của Joanne B.
Eicher [101] lại giúp chúng tôi luôn lưu ý rằng, khi nghiên cứu về trang phục và văn hóa trang phục không thể tách rời chủ thể của nó là tộc người và văn hóa tộc người cũng như những sự biến đổi của trang phục theo thời gian và không gian. Bên cạnh đó, công trình “Women of Visionary Art” (Phụ nữ của nghệ thuật thị giác) của David Jay Brown và Rebecca Ann Hill [99] còn cho chúng tôi thấy được vai trò của người phụ nữ trong việc tạo ra thẩm mỹ bằng nghệ thuật trang trí, đồng thời là người trực tiếp gìn giữ và trao truyền nghệ thuật ấy cho các thế hệ kế cận,. Tình hình nghiên cứu của tác giả trong nước Tổng quan khá chi tiết các nghiên cứu về tộc người Lô Lô ở Việt Nam đã được tác giả Nguyễn Thị Thu thực hiện ở chương “Dân tộc Lô Lô”, trong Vương Xuân Tình (Chủ biên, 2018), Các dân tộc ở Việt Nam, tập 4 quyển 1, do Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật phát hành [65, tr.
Ở đây xin đề cập một số công trình tiêu biểu. Những nghiên cứu trên các lĩnh vực nguồn gốc lịch sử tộc người, hoạt động kinh tế, sinh hoạt văn hóa và tập quán xã hội 15 Về nguồn gốc lịch sử tộc người Lô Lô ở nước ta, chủ yếu được đề cập trong công trình Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam của Nguyễn Chí Huyên (Chủ biên), Hoàng Hoa Toàn, Lương Văn Bảo [32]. Ngoài ra, một số công trình khảo tả về những vấn đề chung của tộc người Lô Lô ở nước ta cũng có đề cập tới lĩnh vực này của đồng bào. Riêng hoạt động sản xuất của người Lô Lô, có rất ít ấn phẩm mang tính chuyên đề hoặc chuyên khảo, bởi vì chỉ có hai công trình có nội dung viết về vấn đề này.
Cụ thể là: Trồng trọt ruộng màu và thổ canh hốc đá ở người Lô Lô Hà Giang của Nguyễn Anh Ngọc [44]; Tập quán canh tác truyền thống của người Lô Lô của Mai Văn Tùng [81]. Do vậy, tập quán và tri thức sản xuất kinh tế, trong đó có trồng bông và chàm của người Lô Lô hầu như chỉ được đề cập đến trong những tác phẩm khảo tả về nhiều lĩnh vực, đó là các tác phẩm: Sơ lược giới thiệu dân tộc Lô Lô huyện Đồng Văn, Hà Giang của tác giả Lâm Tâm [63]; Người Lô Lô ở Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng của Hoàng Hoa Toàn [78]; Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học [87] và đã tái bản năm 2014; Văn hóa và nếp sống Hà Nhì - Lô Lô của Nguyễn Văn Huy [29]; Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam do Khổng Diễn và Trần Bình làm chủ biên [16],. Qua nội dung chi tiết của các công trình này, không chỉ thấy được tình hình sản xuất nông nghiệp truyền thống luôn đóng vai trò chủ đạo đối với đời sống kinh tế của người Lô Lô, mà còn phản ánh được tính đa dạng các hình thức trồng trọt ở các địa bàn sinh sống của tộc người Lô Lô, bao gồm canh tác nương rẫy với nhiều loại hình như nương ven đồi hoặc sườn núi, nương ven suối, nương thổ canh hốc đá,.; làm ruộng bậc thang ở các địa phương Lô Lô thuộc huyện Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang) và các huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm (tỉnh Cao Bằng) đã xuất hiện từ lâu. Đặc biệt, một số công trình đã chỉ ra rằng, trước đây tộc người Lô Lô ở tỉnh Hà Giang trong đó có Lô Lô Hoa ở huyện Mèo Vạc có các loại nương để trồng bông, trồng 16 chàm,.
làm nguyên liệu cho may mặc, nhưng nay tập quán này chỉ còn duy trì đối với người Lô Lô ở tỉnh Cao Bằng. Đáng lưu ý là các nghiên cứu riêng biệt về văn hóa vật chất chưa nhiều, chẳng hạn, về nhà ở chỉ có Nhà ở của người Lô Lô Hà Giang của Lý Hành Sơn [59]; Phong tục làm nhà của dân tộc Lô Lô của Nguyễn Văn Căn [9]. Các nghiên cứu này đã đề cập khá chi tiết về cấu trúc ngôi nhà truyền thống và đặc điểm mặt bằng sinh hoạt trong ngôi nhà Lô Lô ở Việt Nam. Bên cạnh đó, các công trình ấy còn khái quát về một số nghi lễ tín ngưỡng, kiêng kỵ liên quan đến quá trình xây dựng và sinh sống trong nhà mới của tộc người Lô Lô.
Trong khi, nghiên cứu về ăn uống của người Lô Lô ở nước ta thì chưa có ấn phẩm riêng nào, mà chỉ được đề cập trong các công trình viết về những vấn đề chung của tộc người Lô Lô. Tương tự như vậy, đến nay cũng chưa có nghiên cứu riêng về các yếu tố vật chất khác của tộc người Lô Lô như nông cụ, phương tiện vận chuyển, đồ dùng sinh hoạt,. Tuy nhiên, lĩnh vực văn hóa tinh thần nói chung, đặc biệt là các yếu tố như văn học dân gian, dân ca, dân vũ,. của người Lô Lô luôn thu hút được nhiều nghiên cứu nhất.
Có thể kể tới một số ấn phẩm tiêu biểu như: Dân ca Lô Lô và dân ca Giáy của tác giả Ngô Vĩnh Bình [5]; Truyện cổ Lô Lô của Hoàng Nam và Lò Giàng Páo [40]; Dân ca trong lễ hội của người Lô Lô của Lò Giàng Páo [56]; Lễ “gọi hồn - cầu thọ” của người Lô Lô ở Hà Giang của Nguyễn Văn Căn [10]; Nghệ thuật múa của người Lô Lô ở Hà Giang của Trịnh Minh Ngọc [46]; Múa tiễn đưa linh hồn - nét văn hóa tâm linh độc đáo của người Lô Lô cũng của Trịnh Minh Ngọc [47],.