Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm thể hiện hoạt động sáng tạo chỉ riêng con ngƣời mới có, con ngƣời là chủ thể sáng tạo văn hóa gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời. Văn hóa là một khái niệm có ngoại diên rất rộng, bao gồm nhiều loại đối tƣợng, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau. Khái niệm văn hóa có hàng trăm cách định nghĩa khác nhau, căn cứ vào góc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu, phản ánh những hƣớng quan tâm khác nhau đến sự phong phú, đa dạng của văn hóa.
Ở phƣơng Tây, theo tiếng Anh và tiếng Pháp "Culture" đều xuất xứ từ chữ La tinh "Cultura" có nghĩa là sự khai hoang, trồng trọt, sự vun trồng, sau đó từ cultura đƣợc mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục về mặt tinh thần của con ngƣời. Ở phƣơng Đông, trong tiếng Hán cổ, từ “văn hóa", bao gồm "văn" là vẻ đẹp nhân tính, trí tuệ con ngƣời, "hóa" là dạy dỗ, cảm hóa, từ đó hình thành quan niệm "văn trị giáo hóa" của ngƣời Trung Quốc. Nhƣ vậy trong từ của phƣơng Đông và phƣơng Tây, “văn hoá” đều có chung một nghĩa căn bản là là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con ngƣời. + Theo Fiderico Mayor, nguyên tổng giám đốc UNESCO: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc” + Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh 14 hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. + Tác giả Trần Ngọc Thêm quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình”. Nhƣ vậy, có thể xem văn hóa là toàn bộ những sản phẩm do con ngƣời sáng tạo ra, có giá trị, phù hợp với cộng đồng.
Đƣợc cộng đồng chấp nhận, lƣu truyền và sử dụng cho đến ngày hôm nay Khái niệm Di sản văn hóa - Di sản văn hóa quy định tại luật di sản văn hóa năm 2001 (đƣợc bổ sung 2009) bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.32-33] - Di sản văn hóa phi vật thể Công ƣớc quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO đƣợc đƣa ra tại cuộc họp đại hội đồng, phiên họp thứ 32 tại Pari từ ngày 29/9 đến 17/10 năm 2003 đã đƣa ra công ƣớc về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Cụ thể nhƣ sau: “Di sản văn hóa phi vật thể đƣợc hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, kỹ năng kèm theo đó là những công cụ, những đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm ngƣời và trong một số trƣờng hợp là cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Đƣợc chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể đƣợc cộng đồng và các nhóm ngƣời không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trƣờng và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tinh thần sáng tạo của con ngƣời.” 15 Từ định nghĩa trên, UNESCO xác định di sản văn hóa phi vật thể thể hiện ở những loại hình sau [44, tr3]: - Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phƣơng tiện của di sản văn hóa phi vật thể; - Nghệ thuật trình diễn; - Tập quán xã hội, tín ngƣỡng và các lễ hội; - Tri thức và tập tục liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; - Nghề thủ công truyền thống. Ở Việt Nam, khái niệm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể đƣợc quy định tại điều 4 Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa nhƣ sau: Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ, lƣu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xƣớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dƣợc cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.40-41] Nhƣ vậy, cả Công ƣớc quốc tế về Di sản văn hóa phi vật thể và Luật di sản văn hóa, nghề thủ công truyền thống là một trong những loại hình của di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng.
Nghề thủ công và các chủ thể sáng tạo, lƣu truyền là đối tƣợng cần đƣợc bảo tồn và phát huy. - Nghề thủ công truyền thống: Theo Đại từ điển tiếng Việt, nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội,1 là công việc hàng ngày phải làm để sinh sống. Có rất nhiều tên gọi về nghề thủ công truyền thống ở nƣớc ta nhƣ: nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề tiểu thủ công nghiệp,… 1 Nguyễn Nhƣ Ý (1999, chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr 1192 16 Tác giả Bùi Văn Vƣợng - một trong những chuyên gia nghiên cứu về làng nghề truyền thống Việt Nam. Nghề thủ công là nghề sản xuất chủ yếu bằng tay và các công cụ giản đơn, với con mắt và bộ óc giàu sáng tạo của nghệ nhân.
Công nghệ truyền thống bao gồm cả tay nghề của nghệ nhân và thợ kỹ thuật nói chung. Tác giả cũng đề xuất tên gọi chung là “nghề thủ công truyền thống Việt Nam” dùng để chỉ chung cho nghề truyền thống ở nƣớc Việt, trong đó bao gồm các nghề nhƣ: gốm, đúc đồng, chạm khắc đá, chạm khắc gỗ, kim hoàn, rèn, mây tre đan, sơn, khảm trai, dệt vải, tơ lụa, dệt chiếu, làm nón, làm quạt giấy, giấy dó, tranh dân gian,… đó là những nhóm nghề lớn có giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học.2 Đối với các loại nghề thủ công truyền thống, cần phải đáp ứng đƣợc các yếu tố: + Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nƣớc ta + Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề + Có nhiều thế hệ, nghệ nhân, đội ngũ thợ lành nghề + Kỹ thuật và công nghệ ổn định + Sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ (nội địa hoàn toàn hoặc chủ yếu) + Sản phẩm tiêu biểu, độc đáo, mang bản sắc và giá trị văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam + Nghề nghiệp nuôi sống đƣợc bộ phận dân cƣ của cộng đồng, có đóng góp đáng kể vào kinh tế nhà nƣớc.3 Trong các loại nghề thủ công truyền thống của Việt Nam, nghề dệt thổ cẩm của các dân tộc thiểu số đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, trong hội nhập và giao lƣu quốc tế. Các họa tiết, hoa văn trang trí, màu sắc trong các sản phẩm dệt thể hiện những giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc của mỗi cộng đồng. Đó cũng là cơ sở thôi thúc tôi trong việc ứng dụng những giá trị đó 2 Bùi Văn Vƣợng (2002), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr12 3 Bùi Văn Vƣợng (2002), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr12 17 trong các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng, góp phần phát huy, quảng bá các giá trị văn hóa của cộng đồng trong đời sống xã hội hiện nay.
Các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng một số lý thuyết và quan điểm về bảo tồn phát huy các loại hình di sản văn hóa. Lý thuyết sinh thái học văn hóa. Thuyết sinh thái học, chúng tôi sử dụng trong đề tài này theo quan điểm của Julian Haynes Steward ông cho rằng: Sinh thái học văn hóa làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường từ quan điểm con người là thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hóa, còn văn hóa thì chịu ảnh hưởng của các loại tài nguyên môi trường mà con người sử dụng 4. Quan điểm này đề cập đến tƣơng tác giữa tự nhiên và văn hóa – phân tích mối quan hệ giữa nền văn hóa với môi trƣờng của nó.
Môi trƣờng tự nhiên ảnh hƣởng đến sự phát triển các đặc điểm văn hóa. Vận dụng quan điểm lý thuyết này, chúng tôi sẽ giải thích sự thay đổi và biến mất của một số loại hình văn hóa truyền thống của ngƣời Mạ - Xtiêng - Chơ-ro, trong đó là nghề thủ công truyền thống. Ngay cả trong một nghề, các công đoạn của nghề đó cũng thay đổi và mất đi. Ví dụ: nhƣ vùng trồng nguyên liệu dệt, các công đoạn của xử lý nguyên liệu, kỹ thuật và nguyên liệu để nhuộm vải…từ đó tôi đặt giả thuyết rằng: Phải chăng môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội của ngƣời các tộc ngƣời thiểu số khu vực Đông Nam Bộ thay đổi, dẫn đến sự mai một và biến mất về văn hóa truyền thống, đặc biệt là các nghề thủ công.
Lý thuyết về tri thức bản địa Tri thức bản địa là tổng hợp những kiến thức đƣợc thử thách và đúc rút qua nhiều thế hệ ở các cộng đồng cƣ dân qua thực tiễn sản xuất và đời sống. Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng dân cƣ đã tích cóp các thông tin, các kỹ 4 Robert LayTon, 2008, Nhập môn lý thuyết nhân học, Nxb đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.