Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sức khỏe tâm thần là một thành tố thiết yếu đối với sức khỏe tổng thể, đóng vai trò quyết định đến năng lực tư duy, kiểm soát cảm xúc, định hình hành vi và khả năng thích ứng của người trẻ tuổi trước các thách thức cuộc sống. Tuy nhiên, gánh nặng rối loạn tâm thần ở lứa tuổi vị thành niên (10–19 tuổi) đang gia tăng trên phạm vi toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2019), ước tính cứ 7 vị thành niên thì có 1 người (14%) mắc các rối loạn sức khỏe tâm thần nhưng phần lớn chưa được phát hiện và can thiệp kịp thời. Tại Việt Nam, báo cáo của UNICEF (2018) chỉ ra tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở trẻ em và vị thành niên dao động trong khoảng từ 8% đến 29%, tương đương hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Bên cạnh các biến đổi mạnh mẽ về thể chất và tâm sinh lý, trải nghiệm thơ ấu (TNTA) tiêu cực trong giai đoạn từ 3 đến 11 tuổi được xác định là nguồn gây căng thẳng mạnh mẽ, kéo dài, để lại nhiều hậu quả bất lợi đối với sức khỏe thể chất và tâm thần khi trưởng thành. Các dữ liệu quốc tế từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) chỉ ra rằng việc ngăn ngừa TNTA tiêu cực có thể làm giảm đến 44% số người trưởng thành mắc chứng trầm cảm. Mặc dù vậy, tại Việt Nam, các bằng chứng dịch tễ học về TNTA tiêu cực và tác động của nó tới sức khỏe tâm thần học sinh còn tương đối hạn chế, chủ yếu tiếp cận ở các khía cạnh hẹp như trầm cảm, ý định tự tử ở khu vực phía Nam hoặc hành vi gây hấn, thấu cảm mà chưa đánh giá đa chiều trên đối tượng học sinh trung học phổ thông (THPT) tại Thủ đô Hà Nội.

Đề tài "Trải nghiệm thơ ấu tiêu cực, sức khỏe tâm thần của học sinh một số trường trung học phổ thông tại Hà Nội, năm 2023 và một số yếu tố ảnh hưởng" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học cụ thể sau:

  1. Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng trải nghiệm thơ ấu tiêu cực, sức khỏe tâm thần và mối quan hệ giữa trải nghiệm thơ ấu tiêu cực và sức khỏe tâm thần của học sinh một số trường THPT tại Hà Nội, năm 2023.
  2. Mục tiêu 2: Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng (cá nhân, gia đình, nhà trường) đến sức khỏe tâm thần và trải nghiệm thơ ấu tiêu cực của học sinh một số trường THPT tại Hà Nội, năm 2023.

Đối tượng nghiên cứu là học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 (độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi) đang theo học tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội, có đủ năng lực đọc hiểu và tự điền bảng hỏi. Nghiên cứu loại trừ các trường hợp học sinh vắng mặt tại thời điểm phát vấn. Địa bàn nghiên cứu được triển khai tại 3 trường THPT đại diện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ tháng 05/2023 đến tháng 11/2024.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết sinh thái (Ecological Theory) của Bronfenbrenner để tiếp cận các yếu tố nguy cơ tác động đến sức khỏe hành vi và tâm thần ở nhiều cấp độ tương tác:

  • Cấp độ cá nhân: Tuổi, giới tính, khối lớp học tập.
  • Cấp độ gia đình: Tình trạng kinh tế hộ gia đình, trình độ học vấn của cha/mẹ, nghề nghiệp chính của cha/mẹ.
  • Cấp độ nhà trường: Mức độ quan tâm, hỗ trợ của thầy cô giáo và mức độ gắn kết, chia sẻ, giúp đỡ từ bạn bè đồng trang lứa.

Khung đo lường trong nghiên cứu tích hợp hai bộ công cụ chuẩn hóa quốc tế đã được thích ứng dịch tễ học tại Việt Nam:

  • Bảng hỏi quốc tế về trải nghiệm thơ ấu tiêu cực (ACE–IQ) của WHO (2018): Đánh giá 13 loại trải nghiệm bất lợi thuộc 4 nhóm chính gồm: Lạm dụng (thể chất, tình cảm, tình dục); Bỏ bê (thể chất, tình cảm); Rối loạn chức năng gia đình (bạo lực gia đình, người nhà nghiện chất, người nhà bị giam giữ, người nhà có rối loạn tâm thần, cha mẹ chia ly/qua đời); Bạo lực xã hội (bắt nạt/bạo lực học đường, bạo lực cộng đồng, bạo lực tập thể).
  • Bảng hỏi điểm mạnh và khó khăn (SDQ 25) của Robert Goodman (phiên bản học sinh tự đánh giá): Bao gồm 25 mục đánh giá 5 khía cạnh sức khỏe tâm thần và hành vi (vấn đề cảm xúc, vấn đề ứng xử, tăng động/giảm chú ý, quan hệ bạn bè, kỹ năng tiền xã hội). Điểm cắt xác định có vấn đề về sức khỏe tâm thần là tổng điểm khó khăn lớn hơn 15 (>15).

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang (cross-sectional study). Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ quần thể:

$$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{p(1-p)}{d^2} \cdot DE$$

Với mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0{,}05$ ($Z = 1{,}96$), khoảng sai lệch chấp nhận được $d = 0{,}05$, hệ số thiết kế cụm $DE = 2$. Cỡ mẫu lý thuyết tính được là $n = 570$. Dự trù 10% tỷ lệ từ chối hoặc mất mẫu, cỡ mẫu tối thiểu được xác định là $n = 627$ học sinh.

Phương pháp chọn mẫu cụm đa giai đoạn được tiến hành qua 3 bước:

  • Giai đoạn 1 (chọn trường): Chọn ngẫu nhiên đơn 3 trường THPT từ danh sách 221 trường THPT trên toàn địa bàn Hà Nội.
  • Giai đoạn 2 (chọn lớp): Tại mỗi trường được chọn, bốc thăm ngẫu nhiên đơn 2 lớp cho mỗi khối (khối 10, khối 11, khối 12), tương ứng 6 lớp/trường và tổng cộng 18 lớp cho toàn nghiên cứu (mỗi lớp trung bình 35 học sinh).
  • Giai đoạn 3 (chọn học sinh): Khảo sát toàn bộ học sinh trong 18 lớp đã chọn đạt tiêu chuẩn lựa chọn.

Nguồn dữ liệu là số liệu sơ cấp định lượng thu thập thông qua phát vấn bảng hỏi tự điền trực tiếp tại lớp. Quy trình thu thập gồm 3 bước: gửi công văn xin phối hợp và phiếu đồng thuận của phụ huynh, thử nghiệm hoàn thiện bảng hỏi trên nhóm mẫu thử độc lập, và phát vấn chính thức có điều tra viên giám sát tính riêng tư, bảo mật. Số liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê chuyên ngành; sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và thống kê suy luận (kiểm định Chi-bình phương $\chi^2$) nhằm xác định mối liên quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc ở mức ý nghĩa $p < 0{,}05$ và khoảng tin cậy 95%.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan tài liệu

Chương I tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng thuật các nghiên cứu trong nước, quốc tế về hai biến số trọng tâm: sức khỏe tâm thần và trải nghiệm thơ ấu tiêu cực ở lứa tuổi vị thành niên.

Tác giả phân tích các định nghĩa chuẩn hóa của WHO về sức khỏe tâm thần và lứa tuổi vị thành niên (10–19 tuổi, phân nhóm: 10–13 tuổi là vị thành niên sớm, 14–16 tuổi là vị thành niên giữa, 17–19 tuổi là vị thành niên muộn); các hệ thống phân loại bệnh học tâm thần lâm sàng gồm Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD–10) và Cẩm nang chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần (DSM–5, DSM–5-TR). Tổng quan làm rõ các rối loạn phổ biến ở học sinh như lo âu, trầm cảm, tăng động giảm chú ý (ADHD), rối loạn ứng xử và stress sang chấn.

Về công cụ đo lường, tác giả so sánh các thang đo sàng lọc tâm thần như CES–D (thang đo trầm cảm dịch tễ học, 20 câu), DASS 21 / DASS 42 (đánh giá trầm cảm - lo âu - stress của Lovibond) và luận giải việc chọn thang đo SDQ 25 nhờ tính toàn diện, ngắn gọn, phù hợp với đối tượng học sinh THPT.

STT Tác giả và năm nghiên cứu Tên đề tài Đối tượng nghiên cứu Điểm cắt SDQ 25 Tỷ lệ có vấn đề SKTT
1 Trần Quỳnh Anh (2015) Sức khỏe tâm thần học sinh THPT Việt Đức – Hà Nội Học sinh THPT 15 26,9%
2 Đặng Thùy Linh (2016) Sức khỏe tâm thần học sinh trường THPT Hồng Hà – Nguyễn Khuyến, Hà Nội Học sinh THPT 15 27,0%
3 Bùi Thị Quỳnh Trâm (2018) Thực trạng và yếu tố liên quan đến SKTT học sinh trường THPT Đan Phượng, Hà Nội Học sinh THPT 15 24,6%
4 Trần Thiên Giang (2019) Sức khỏe tâm thần học sinh THPT chuyên Nguyễn Quang Diêu, Đồng Tháp Học sinh THPT 15 37,1%
5 Nguyễn Thị Lưu Ly (2020) SKTT học sinh trường THPT chuyên Hoàng Văn Thụ, Hòa Bình Học sinh THPT 15 40,5%
6 Lê Minh Hoàng (2022) Thực trạng SKTT học sinh tại trường THPT Cờ Đỏ, Nghệ An Học sinh THPT 15 38,1%

Đối với biến số trải nghiệm thơ ấu tiêu cực, tổng quan theo dõi tiến trình phát triển thang đo từ nghiên cứu gốc 10 chỉ báo của Felitti và cộng sự (1998) tại CDC–Kaiser Permanente cho đến thang đo ACE–IQ 13 chỉ báo mở rộng của WHO (2018). Tác giả dẫn chứng các nghiên cứu dịch tễ tại Việt Nam phản ánh tỷ lệ tiếp xúc với ít nhất một TNTA tiêu cực ở mức cao: Trần Quỳnh Anh (2015) ghi nhận 76% ở sinh viên y khoa; Nguyễn Minh Hằng (2017) ghi nhận 46% ở học sinh THPT Hà Nội; Thái Thanh Trúc (2020) ghi nhận 86% ở học sinh THCS/THPT miền Nam; Lê Thị Huyền Trang (2020) ghi nhận 84,3% tại Hà Nội và Hưng Yên; Chử Ngọc Diệp (2022) ghi nhận 91,2% tại Hà Nội.

Về mối liên hệ giữa TNTA tiêu cực và sức khỏe tâm thần, các nghiên cứu quốc tế (Merrick 2017, Amanda 2019, Olaoluwa 2021) và nghiên cứu trong nước (Thái Thanh Trúc 2020) chứng minh mức độ tiếp xúc tích lũy từ 4 TNTA tiêu cực trở lên làm tăng nguy cơ mắc trầm cảm gấp 6,98 lần, đau khổ tâm lý gấp 4,72 lần và ý định tự tử gấp 6,43 lần so với nhóm không tiếp xúc.

Chương II: Phương pháp nghiên cứu

Chương II mô tả chi tiết phương pháp luận dịch tễ học thực địa, cấu trúc các biến số và quy trình triển khai nhằm kiểm soát sai số:

  • Bộ biến số nghiên cứu:
    • Thông tin chung: Tuổi, giới tính, khối lớp, trình độ học vấn của bố/mẹ (thứ bậc), nghề nghiệp của bố/mẹ (định danh), tự đánh giá kinh tế hộ gia đình (thứ bậc), mức độ thầy cô quan tâm (Likert 5 mức độ), sự giúp đỡ từ bạn bè (nhị phân).
    • 13 biến TNTA tiêu cực theo ACE–IQ: Lạm dụng tình cảm (A1, A2), lạm dụng thể chất (A3, A4), lạm dụng tình dục (A5, A6, A7), người nhà nghiện chất (A3, A4), người nhà bị rối loạn tâm thần (F2), người nhà bị tù giam (F3), cha mẹ chia ly/qua đời (F4, F5), bạo lực gia đình (F6, F7, F8), bỏ bê tình cảm (P1, P2), bỏ bê thể chất (P3, P4, P5), bạo lực học đường/bắt nạt (V1), bạo lực cộng đồng (V4, V5, V6), bạo lực tập thể (V7, V8, V9).
    • 22 biến chỉ báo sức khỏe tâm thần theo SDQ 25: Gồm các câu hỏi đánh giá mức độ bồn chồn hiếu động, hay đau đầu mệt mỏi, chia sẻ đồ dùng, nổi cáu tức giận, cô độc một mình, vâng lời người lớn, lo lắng thường xuyên, giúp đỡ người khác, đánh nhau/bắt nạt, buồn bã dễ khóc, được bạn bè yêu quý, mất tập trung, sợ hãi tình huống mới, trung thực/nói dối, bị bạn chọc ghẹo, suy nghĩ trước khi làm việc, thói quen trộm cắp...
  • Quy trình và kiểm soát sai số: Nghiên cứu phân tích các nguồn sai số tiềm tàng gồm sai số chọn mẫu (khắc phục bằng chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn có tính hệ số thiết kế $DE=2$), sai số nhớ lại do đối tượng hồi tưởng thời thơ ấu (khắc phục bằng việc chuẩn hóa câu hỏi có ví dụ cụ thể), và sai số thông tin nhạy cảm (khắc phục bằng quy chế phát vấn khuyết danh, bố trí vị trí ngồi làm bài độc lập và thu hồi phiếu kín).
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài tuân thủ các nguyên tắc y đức, gửi văn bản phê duyệt qua ban giám hiệu các trường, ký phiếu đồng thuận tham gia nghiên cứu từ phụ huynh và học sinh, cam kết bảo mật toàn bộ dữ liệu cá nhân.

Chương III: Dự kiến kết quả nghiên cứu

Chương III thiết lập hệ thống khung bảng dự kiến xuất dữ liệu phân tích trên mẫu nghiên cứu $n = 627$ học sinh:

  • Bảng đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế - xã hội: Phân bố học sinh theo giới tính (nam, nữ), độ tuổi (15, 16, 17, 18), khối lớp (10, 11, 12), tình trạng kinh tế gia đình (nghèo/cận nghèo, trung bình, khá giả), trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ.
  • Bảng thực trạng TNTA tiêu cực: Tỷ lệ phần trăm học sinh từng trải qua từng loại trong 13 dạng TNTA tiêu cực; phân loại theo 4 nhóm lớn (Lạm dụng, Bỏ bê, Rối loạn gia đình, Bạo lực cộng đồng); phân bố mức độ phơi nhiễm tích lũy (0 trải nghiệm, 1 trải nghiệm, 2–3 trải nghiệm, $\ge 4$ trải nghiệm).
  • Bảng thực trạng sức khỏe tâm thần theo SDQ 25: Tỷ lệ học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần chung (tổng điểm khó khăn $>15$) và tỷ lệ bất thường phân theo từng phân nhóm thành phần (vấn đề cảm xúc, vấn đề hành vi, tăng động giảm chú ý, quan hệ bạn bè, kỹ năng tiền xã hội).
  • Bảng phân tích mối liên quan qua kiểm định $\chi^2$:
    • Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân (tuổi, giới tính), gia đình (kinh tế, học vấn/nghề nghiệp bố mẹ), nhà trường (thầy cô quan tâm, bạn bè hỗ trợ) với việc tiếp xúc TNTA tiêu cực.
    • Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường với tình trạng sức khỏe tâm thần học sinh.
    • Mối liên quan trực tiếp giữa mức độ phơi nhiễm TNTA tiêu cực (số lượng và chủng loại trải nghiệm) với nguy cơ xuất hiện các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT.

Kết quả và đóng góp

Văn bản tiểu luận xây dựng hoàn chỉnh đề cương nghiên cứu dịch tễ học và khung xử lý số liệu dự kiến cho đề tài sức khỏe học đường. Các đóng góp chính gồm:

  • Về mặt dữ liệu học thuật: Cung cấp khung thiết kế nghiên cứu cắt ngang đại diện cho học sinh THPT tại Hà Nội, thiết lập phương pháp kết hợp đồng thời hai thang đo ACE–IQ và SDQ 25 để đánh giá sức khỏe tâm thần dưới tác động của trải nghiệm bất lợi thời thơ ấu.
  • Về mặt phát hiện dịch tễ: Tổng quan làm rõ bức tranh dịch tễ học về tỷ lệ rối loạn sức khỏe tâm thần học sinh THPT tại Việt Nam (dao động phổ biến từ 24,6% đến 40,5% theo điểm cắt SDQ 25) và khẳng định tỷ lệ phơi nhiễm TNTA tiêu cực ở thanh thiếu niên Việt Nam là rất cao (từ 46% đến 91,2% tùy mẫu nghiên cứu).
  • Về mặt ứng dụng thực tiễn: Làm cơ sở khoa học để đề xuất các can thiệp y tế công cộng và tâm lý học đường, hỗ trợ giáo viên và phụ huynh nhận diện sớm các dấu hiệu sang chấn tâm lý, từ đó xây dựng môi trường học đường an toàn, hỗ trợ nâng đỡ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang chỉ cho phép ghi nhận mối liên quan tại một thời điểm, chưa thể xác lập mối quan hệ nhân quả tuyệt đối theo chiều thời gian giữa các trải nghiệm thời thơ ấu và sự phát triển rối loạn tâm thần.
    • Phương pháp thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi tự điền hồi tưởng về giai đoạn 3–11 tuổi có thể chịu ảnh hưởng bởi sai số nhớ lại (recall bias) hoặc tâm lý e ngại bộc lộ các vấn đề gia đình nhạy cảm (bị bạo lực, lạm dụng).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Triển khai nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) hoặc thuần tập trên nhóm thanh thiếu niên để kiểm chứng tác động lâu dài của TNTA tiêu cực đến sức khỏe tâm thần giai đoạn trưởng thành.
    • Phát triển và đánh giá hiệu quả các mô hình can thiệp phòng ngừa sang chấn và tư vấn tâm lý chuyên sâu tại các trường THPT.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo phương pháp luận cho sinh viên, học viên, nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Tâm lý học lâm sàng/học đường và Công tác xã hội.

Nội dung tiểu luận cung cấp quy trình chuẩn hóa về tính toán cỡ mẫu cụm đa giai đoạn, khung phân tích biến số chi tiết của bảng hỏi ACE–IQ (WHO) và thang đo SDQ 25 (Robert Goodman), hỗ trợ trực tiếp cho các nghiên cứu dịch tễ học hành vi và sức khỏe tâm thần học sinh sinh viên.


Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài sử dụng những công cụ chuẩn hóa nào để đo lường TNTA tiêu cực và sức khỏe tâm thần?

Nghiên cứu sử dụng Bảng hỏi quốc tế về trải nghiệm thơ ấu tiêu cực (ACE–IQ) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2018) để đánh giá 13 loại trải nghiệm bất lợi thời thơ ấu, và Bảng hỏi điểm mạnh và khó khăn (SDQ 25) của Robert Goodman (phiên bản học sinh tự đánh giá) với ngưỡng điểm cắt lớn hơn 15 (>15) để sàng lọc các vấn đề sức khỏe tâm thần.

2. Cỡ mẫu của nghiên cứu được tính toán là bao nhiêu và lựa chọn theo phương thức nào?

Cỡ mẫu tối thiểu được xác định là 627 học sinh (tính từ công thức ước lượng một tỷ lệ với $n=570$, hệ số thiết kế cụm $DE=2$, sai lệch $d=0{,}05$, cộng 10% dự phòng mất mẫu). Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu cụm 3 giai đoạn: chọn ngẫu nhiên đơn 3 trường THPT tại Hà Nội, chọn ngẫu nhiên đơn 6 lớp/trường (tổng cộng 18 lớp thuộc các khối 10, 11, 12), và khảo sát toàn bộ học sinh đạt tiêu chuẩn trong các lớp được chọn.

3. Khung lý thuyết nền tảng của nghiên cứu là gì?

Đề tài dựa trên Thuyết sinh thái (Ecological Theory) của Bronfenbrenner, phân tích sức khỏe tâm thần và trải nghiệm thơ ấu tiêu cực dựa trên sự tương tác đa tầng giữa ba nhóm yếu tố: cá nhân (tuổi, giới tính), gia đình (thu nhập, học vấn cha mẹ, nghề nghiệp cha mẹ), và nhà trường (sự quan tâm của giáo viên, sự gắn kết giúp đỡ từ bạn bè).

4. Bảng hỏi ACE–IQ của WHO đánh giá những loại trải nghiệm bất lợi cụ thể nào?

ACE–IQ đánh giá 13 loại TNTA tiêu cực bao gồm: lạm dụng thể chất, lạm dụng tình cảm, lạm dụng tình dục, bỏ bê thể chất, bỏ bê tình cảm, bạo lực gia đình, người nhà nghiện chất, người nhà bị giam giữ, người nhà có rối loạn tâm thần, cha mẹ chia ly/qua đời, bắt nạt học đường, bạo lực cộng đồng và bạo lực tập thể.

5. Tổng quan tài liệu ghi nhận tỷ lệ học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần theo thang đo SDQ 25 tại các trường THPT ở Việt Nam là bao nhiêu?

Theo các nghiên cứu được tổng hợp trong tiểu luận, tỷ lệ học sinh THPT có vấn đề sức khỏe tâm thần (điểm cắt SDQ 25 > 15) dao động từ 24,6% (tại THPT Đan Phượng, Hà Nội năm 2018) đến 40,5% (tại THPT chuyên Hoàng Văn Thụ, Hòa Bình năm 2020).


Kết luận

Tiểu luận tốt nghiệp của tác giả Lê Quang Quyền đã xây dựng hoàn chỉnh một thiết kế nghiên cứu dịch tễ học cắt ngang nhằm mô tả thực trạng và mối liên quan giữa trải nghiệm thơ ấu tiêu cực và sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT tại Hà Nội. Đề tài vận dụng chặt chẽ thuyết sinh thái Bronfenbrenner cùng hai bộ công cụ đo lường chuẩn hóa quốc tế là ACE–IQ và SDQ 25 trên cỡ mẫu đại diện 627 học sinh. Các kết quả và quy trình phương pháp luận của nghiên cứu đóng góp nguồn dữ liệu khoa học thiết thực, phục vụ công tác hoạch định chính sách y tế học đường và can thiệp bảo vệ sức khỏe tâm thần cho thanh thiếu niên.