CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chính 1. Sức khỏe tâm thần Theo WHO “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay thương tật”[17]. Có thể thấy, sức khỏe tâm thần là một thành phần không thể thiếu và thiết yếu của sức khỏe, sức khỏe tâm thần còn hơn cả việc không có bệnh tật, và sức khỏe tâm thần có mối liên hệ mật thiết với sức khỏe thể chất và hành vi.
Các rối loạn tâm thần và các rối loạn liên quan đến chất kích thích thần kinh rất phổ biến trên khắp thế giới và là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật, tàn tật và tử vong sớm. Tuy nhiên, các nguồn lực được các quốc gia phân bổ để giải quyết gánh nặng này là không đủ, được phân phối không công bằng và đôi khi được sử dụng không hiệu quả. Cùng với đó, điều này đã dẫn đến khoảng cách điều trị, ở nhiều quốc gia, là hơn 70%. Sự kỳ thị, loại trừ xã hội và phân biệt đối xử xảy ra xung quanh những người bị rối loạn tâm thần càng làm trầm trọng thêm tình hình [18].
Sức khỏe tâm thần không chỉ là không xuất hiện các rối loạn tâm thần. Sức khỏe tâm thần còn được định nghĩa là (WHO, 2004) “trạng thái thoải mái trong đó cá nhân nhận ra khả năng của bản thân, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường của cuộc sống, có thể làm việc năng suất và hiệu quả, và có thể đóng góp cho cộng đồng”[19]. Từ điển các thuật ngữ Tâm lý học đưa ra định nghĩa “Sức khỏe tâm thần là trang thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện nào về rối loạn tâm thần. Một trạng thái đảm bảo cho sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường”[20].
Nhìn chung, sức khoẻ tâm thần là trạng thái tích cực trong suy nghĩ, cách kiểm soát cảm xúc và hành xử. Đó là trạng thái tâm lý của một người đang hoạt động ở 5 mức độ thỏa đáng về việc điều chỉnh cảm xúc và hành vi. Khi sức khỏe tinh thần tốt, con người sẽ có ý chí kiên cường hơn khi đối mặt với các thử thách khó khăn; và đặc biệt, đối với người sống tình cảm hoặc dễ bị stress, sức khỏe tâm thần lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn [21]. Vị thành niên Tuổi vị thành niên – được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là thập kỷ thứ hai của cuộc đời (10–19 tuổi) – là thời điểm diễn ra những thay đổi quan trọng về thể chất, tâm lý và xã hội.
Trong giai đoạn phát triển này, vị thành niên đạt được các kiểu suy nghĩ và lập luận tiên tiến hơn, tìm cách rèn giũa bản sắc riêng, hình thành các mối quan hệ xã hội và sự gắn bó mới, đồng thời phát triển ý thức trách nhiệm và tính độc lập ngày càng tăng. Đây cũng là thời điểm mà vị thành niên có thể đối mặt với những thách thức xã hội như cơ hội giáo dục không đầy đủ, triển vọng tìm kiếm công việc bổ ích bị hạn chế và những thách thức về sức khỏe như mang thai sớm và ngoài ý muốn, bệnh lây truyền qua đường tình dục, bạo lực, lo âu và trầm cảm [22]. Ở nhiều quốc gia, bao gồm Australia, Ấn Độ, Philippines, Brazil, Croatia và Colombia, trẻ vị thành niên được xác định là một người dưới tuổi 18. Trong khi Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan và Hàn Quốc, trẻ vị thành niên là người dưới 20 tuổi.
Pháp luật New Zealand quy định trẻ vị thành niên là người dưới 18 tuổi [23]. Tại Việt Nam, trẻ vị thành niên là trẻ ở lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi. Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi. Về mặt luật pháp trẻ vị thành niên là trẻ dưới 18 tuổi [23].
Lứa tuổi vị thành niên này được chia ra ba nhóm: Từ 10 đến 13 tuổi là nhóm vị thành niên sớm; Từ 14 đến 16 tuổi là nhóm vị thành niên giữa; Từ 17 đến 19 tuổi là nhóm vị thành niên muộn. Sự phân chia này dựa theo đặc điểm ít nhiều khác nhau về phát triển cơ thể và tâm sinh lý của lứa tuổi vị thành niên, để việc chăm sóc sức khoẻ cho phù hợp với từng nhóm đối tượng. Tuy vậy cách phân chia này cũng chỉ có 6 tính tương đối. Vì trong thực tế, yếu tố tâm sinh lý, thể chất của mỗi cá nhân có những đặc điểm riêng biệt không hoàn toàn theo đúng sự phân định [23].
Phân loại về sức khỏe tâm thần Có 2 cách phân loại sức khỏe tâm thần được sử dụng hiện nay là Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 của Tổ chức y tế thế giới (ICD–10). ICD–10 (Classifications International Classification of Diseases, 10th Revision): là Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật và nguyên nhân tử vong do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ban hành năm 1990, được Bộ y tế ban hành bản hành bản dịch đầu tiên vào năm 2002. Phiên bản mới nhất được Bộ y tế ban hành là phiên bản 2018 (phiên bản số 6). Bộ mã ICD–10 gồm 22 chương bệnh, trong đó 21 chương bệnh chính.
Trong đó, danh mục SKTT nằm ở chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi, gồm 10 nhóm bệnh lớn (F0–F99), trong mỗi nhóm là phân loại chi tiết về tên bệnh tùy bệnh sinh hay tính chất đặc thù [24]. Bảng hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần của Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ (DSM–5). Cẩm nang chẩn đoán và Thống kê rối loạn Tâm thần được Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ phát hành vào tháng 5/2013 và cập nhật, sửa đổi vào tháng 3 năm 2022 với tên gọi DSM–5 TR. Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM) là cuốn sổ tay được các chuyên gia chăm sóc sức khỏe ở Hoa Kỳ và nhiều nơi trên thế giới sử dụng như một hướng dẫn để chẩn đoán các rối loạn tâm thần.DSM–5 TR có cấu trúc tương tự DSM–5 bao gồm 20 chương, có tính giá trị cao, giúp các bác sĩ lâm sàng chẩn đoán chính xác và nhất quán hơn, đồng thời giúp các nhà nghiên cứu nghiên cứu kỹ hơn về mối liên hệ giữa các rối loạn với nhau, từ đó có thể dẫn đến điều trị tốt hơn cho người bệnh [25].
Một số các rối loạn sức khỏe tâm thần phổ biến của vị thành niên Theo WHO (2019) ước tính trên toàn cầu, cứ 7 trẻ từ 10–19 tuổi thì có một trẻ bị rối loạn tâm thần, chiếm 14% gánh nặng bệnh tật toàn cầu ở nhóm tuổi này. Tuổi vị thành niên là một thời gian độc đáo và hình thành. Những thay đổi về thể chất, cảm 7 xúc và xã hội, bao gồm cả việc tiếp xúc với nghèo đói, lạm dụng hoặc bạo lực, có thể khiến vị thành niên dễ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần [1]. Các rối loạn SKTT ở trẻ em và vị thành niên gồm có [26]: Rối loạn lo âu; Trầm cảm; Rối loạn lưỡng cực; Rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD); Tâm thần phân liệt; Rối loạn ăn uống; Hành vi gây rối và rối loạn xã hội; Rối loạn phát triển thần kinh.
Bộ y tế và dịch vụ nhân sinh Hoa Kỳ (HHS) năm 2020 báo cáo rằng các rối loạn sức khỏe tâm thần phổ biến ở tuổi vị thành niên bao gồm những rối loạn liên quan đến lo lắng, trầm cảm, tăng động giảm chú ý và ăn uống [27, 28]. Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu hải ngoại Anh quốc (ODI) và Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (do UNICEF điều phối) về SKTT của vị thành niên tại Việt Nam (2018) cho thấy, các loại hình vấn đề SKTT phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề hướng nội (lo âu, trầm cảm, đơn độc) và vấn đề hướng ngoại (tăng động, giảm chú ý) [4, 29]. Trải nghiệm thơ ấu tiêu cực Có năm giai đoạn quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của con người. Thời thơ ấu là giai đoạn thứ ba của cuộc đời kéo dài từ ba đến mười một tuổi [30].
Theo WHO xác định “Những TNTA tiêu cực đề cập đến một số nguồn gây căng thẳng mạnh mẽ và thường xuyên nhất mà trẻ em có thể phải chịu đựng trong giai đoạn đầu đời”. Những trải nghiệm như vậy bao gồm nhiều loại lạm dụng; sao nhãng; bạo lực giữa cha mẹ hoặc người chăm sóc; các loại rối loạn chức năng gia đình nghiêm trọng khác như lạm dụng rượu và chất gây nghiện; và bạo lực giữa bạn bè, cộng đồng và tập thể [12]. Nghiên cứu này sẽ sử dụng khái niệm của WHO làm tiêu chuẩn. TNTA tiêu cực có những định nghĩa khác nhau cho mỗi trải nghiệm.
Nội dung dưới đây sẽ trình bày khái niệm các loại trải nghiệm do các tổ chức bảo vệ trẻ em trên thế giới đề xuất và được sử dụng trong nghiên cứu này. 8 Mô hình bạo lực (WHO, 2009), xuyên suốt mỗi phạm trù này là bản chất các hành vi bạo lực. Bản chất các hành vi này có thể là thể chất, tình dục, tình cảm hoặc tâm lý, hoặc một trong những hành vi bỏ bê [31]. Từ đây, WHO đã đưa ra định nghĩa các thuật ngữ về lạm dụng thể chất, lạm dụng tình dục, lạm dụng tình cảm và bỏ bê.
Lạm dụng thể chất đối với trẻ em được định nghĩa là việc cố ý sử dụng vũ lực đối với một đứa trẻ dẫn đến – hoặc có khả năng cao dẫn đến – tổn hại cho sức khỏe, sự sống còn, sự phát triển hoặc nhân phẩm của đứa trẻ. Điều này bao gồm đánh, đập, đá, lắc, cắn, bóp cổ, làm bỏng, đốt, đầu độc và ngạt thở. Nhiều bạo lực thể chất đối với trẻ em trong nhà xảy ra với mục đích trừng phạt [31]. Lạm dụng tình dục được định nghĩa là việc trẻ tham gia vào hoạt động tình dục mà trẻ không hiểu đầy đủ, không thể đưa ra sự đồng ý có hiểu biết hoặc trẻ không được chuẩn bị về mặt phát triển hoặc vi phạm luật pháp hoặc các quy định xã hội hoặc cấm kỵ của xã hội [31].
Lạm dụng tâm lý và tình cảm liên quan đến cả những sự cố đơn lẻ, cũng như thất bại theo thời gian của cha mẹ hoặc người chăm sóc trong việc cung cấp một môi trường hỗ trợ và phù hợp cho sự phát triển. Các hành vi thuộc loại này có thể có khả năng cao gây tổn hại đến sức khỏe thể chất hoặc tinh thần của trẻ, hoặc sự phát triển về thể chất, tinh thần, tinh thần, đạo đức hoặc xã hội của trẻ.