Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm người quản lý đất đai Người quản lý đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức, những người hợp đồng để giao nhiệm vụ quản lý đất đai.Luận văn này chủ yếu nghiên cứu người quản lý đất đai là công chức. Công vụ và công chức có mối liên hệ mật thiết với nhau, khi quan niệm về công vụ ra sao thì sẽ có một quan niệm về công chức tương ứng. Do đó, cần thiết phải tìm hiểu khái niệm công vụ, làm cơ sở cho việc nghiên cứu về công chức và trách nhiệm pháp lý của công chức.
Khái niệm công vụ Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, chế độ nhà nước khác nhau nền công vụ được quy định khác nhau. Vì thế mà có những cách hiểu khác nhau về công vụ. Xuất phát từ đặc thù của hệ thống chính trị nước ta, công vụ được hiểu là một loại lao động mang tính phục vụ, tính quyền lực và pháp lý, được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Khái niệm công chức Tùy theo phạm vi công vụ rộng hay hẹp, khái niệm công chức cũng có nội hàm rộng, hẹp tương ứng.
Nhìn chung, các quan niệm về công chức ở nước ta và các nước khác trong lịch sử và hiện tại thường khác nhau về đối tượng nào là công chức. Ở nước ta, công chức được hiểu là Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm pháp lý 1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm pháp lý Trong ngôn ngữ hàng ngày thuật ngữ “trách nhiệm” được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực hoặc ngữ cảnh cụ thể.
Trong lĩnh vực chính trị, đạo đức “trách nhiệm” được hiểu theo nghĩa bổn phận, vai trò. Nó luôn mang tính tích cực xuất phát từ sự ý thức của con người về vị trí, vai trò của mình đối với xã hội, đối với những người thân thích, đối với thiên nhiên, môi trường… Chẳng hạn, trách nhiệm với gia đình, với bạn bè, trách nhiệm đối với đất nước, với nhân loại… Trong lĩnh vực pháp lý thuật ngữ “trách nhiệm” cũng được sử dụng theo hai nghĩa: Theo nghĩa tích cực, trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ (nói đến những điều pháp luật yêu cầu phải làm trong hiện tại và tương lai). Chẳng hạn, pháp luật quy định trách nhiệm cho một cơ quan nào đó phải tuyên truyền, phổ biến một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nào đó hay cơ quan A chịu trách nhiệm trước cơ quan B, nghĩa thứ hai, là hậu quả bất lợi. Trách nhiệm theo nghĩa thứ hai là phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì đã vi phạm pháp luật.
Đó là sự phản ứng, lên án của nhà nước và xã hội đối với 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những chủ thể vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội. Sau đây chúng ta nghiên cứu sâu về trách nhiệm pháp lý theo nghĩa hậu quả bất lợi. Sở dĩ nhà nước quy định TNPL đối với những chủ thể vi phạm pháp luật là vì: thứ nhất, trong quy phạm pháp luật nhà nước đã đưa ra trước những cách xử sự có tính khuôn mẫu mà chủ thể được phép hoặc buộc phải lựa chọn khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã được dự liệu. Vì chủ thể khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã được nhà nước dự liệu thì chỉ được phép hoặc buộc phải lựa chọn cho mình cách xử sự phù hợp từ những cách xử sự mà trong quy phạm pháp luật đã dự liệu cho trường hợp đó, thứ hai, các chủ thể pháp luật (trong trạng thái bình thường) luôn hoạt động có lý trí (họ ý thức được việc làm của mình, nghĩa là, họ có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình và hậu quả do nó gây ra cho xã hội) và có tự do ý chí (họ có khả năng và điều kiện để có thể tự lựa chọn cho mình cách xử sự có thể có trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định).
Vì vậy họ có đủ khả năng và phải chịu trách nhiệm về cách xử sự (hành vi) đã lựa chọn của mình. Nếu chủ thể chọn cách xử sự trái với ý chí của nhà nước đã thể hiện trong quy phạm pháp luật (không lựa chọn cách xử sự mà nhà nước cho phép hoặc buộc phải thực hiện trong trường hợp đó), thì chủ thể phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình, phải chịu trách nhiệm pháp lý. Như vậy, trách nhiệm pháp lý chỉ đặt ra đối với những chủ thể có lý trí và có tự do ý chí. Cơ sơ của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật, TNPL chỉ xuất hiện khi trong thực tế xảy ra vi phạm pháp luật.
Nếu trong thực tế không có vi phạm pháp luật thì không được truy cứu TNPL. TNPL chỉ được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật. Không truy cứu TNPL đối với các hành vi trái pháp luật được thực hiện trong trường hợp: a. Chủ thể không có năng lực TNPL (không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình).
Do sự kiện bất ngờ (chủ thể không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra). 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Do phòng vệ chính đáng. Được thực hiện phù hợp với tình thế cấp thiết.
Chỉ các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hay các chủ thể được pháp luật trao quyền thì mới có quyền truy cứu TNPL đối với tổ chức hay cá nhân nào đó. Nó thể hiện ở việc các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hay các chủ thể có quyền theo trình tự thủ tục luật định yêu cầu chủ thể bị truy cứu TNPL giải thích rõ về hành vi của mình và buộc chủ thể vi phạm phải chịu những thiệt hại nhất định (về nhân thân, về tài sản, về tự do…) đã được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với những biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tài các quy phạm pháp luật. TNPL pháp lý về thực chất là áp dụng những biện pháp cưỡng chế đã được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, bản thân trách nhiệm pháp lý không phải là sự cưỡng chế mà chỉ là nghĩa vụ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định. Chủ thể vi phạm pháp luật bị buộc phải thực hiện những biện pháp cưỡng chế được quy định ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật. Như vậy, về nội dung thì trách nhiệm pháp lý là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với chủ thể vi phạm pháp luật, còn về hình thức thì đó là việc tổ chức cho chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, cũng cần chú ý là có một số biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng không liên quan gì tới TNPL, nghĩa là nó được áp dụng cả khi không xảy ra vi phạm pháp luật.
Chẳng hạn, nhà nước có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm cách ly của những người mắc một số bệnh truyền nhiễm, nhà nước có thể áp dụng biện pháp trưng thu, trưng dụng hay trưng mua một số tài sản nào đó khi thấy cần thiết… Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một quá trình hoạt động phức tạp và 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rất khó khăn của các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách có thẩm quyền trong việc nhận xét, tìm hiểu sự việc bị coi là vi phạm pháp luật, ra quyết định giải quyết vụ việc và tổ chức thực hiện quyết định đó. Như vậy, TNPL lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật. Mục đích việc truy cứu trách nhiệm pháp lý Mọi hiện tượng vi phạm pháp luật đều có hại cho xã hội vì nó phá vỡ trật tự pháp luật, nó trực tiếp hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt hại nhất định về vật chất và tinh thần cho cá nhân, tổ chức, xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ. Vì thế, việc truy cứu TNPL đối với các hành vi vi phạm pháp luật là nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích của nhân dân, của tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, tạo điều kiện cho những quan hệ xã hội phát triển đúng hướng, đảm bảo cho quá trình điều chỉnh pháp luật được tiến hành bình thường và có hiệu quả.
Truy cứu trách nhiệm pháp lý trước hết là nhằm mục đích trừng phạt đối với chủ thể vi phạm pháp luật, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tài các quy phạm pháp luật.