Chương I: Cơ sở lý luận về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng về khoản nợ chung. Chương II: Thực trạng pháp luật quy định về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ và chồng đối với khoản nợ chung. Chương III: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới giữa vợ và chồng đối với khoản nợ phát sinh từ hành vi pháp lý do một bên vợ hoặc chồng thực hiện. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ LIÊN ĐỚI CỦA VỢ CHỒNG VỀ KHOẢN NỢ PHÁT SINH TỪ HÀNH VI PHÁP LÝ DO MỘT BÊN VỢ HOẶC CHỒNG THỰC HIỆN 1.
Khái niệm chung về trách nhiệm liên đới Trong đời sống xã hội, mọi cá nhân đều có quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc và các quyền đó luôn được pháp luật của mỗi quốc gia có chủ quyền công nhận, song song với quyền được thừa nhận đó thì cá nhân còn phải thực hiện nghĩa vụ có liên quan trong các mối quan hệ xã hội mà cá nhân là chủ thể như: nghĩa vụ tôn trọng, quyền sở hữu của người khác, tôn trọng trật tự công cộng, bảo vệ môi trường. Trách nhiệm dân sự có thể được hiểu là một quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan chuyên môn ) và chủ thể vi phạm pháp luật (có nghĩa là các cá nhân hoặc pháp nhân) trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi và những biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định ở chế tài pháp luật. Điều đó được hiểu là sự cưỡng chế của nhà nước buộc người vi phạm pháp luật phải chấp hành quy phạm pháp luật, trừng trị người vi phạm pháp luật, bắt buộc phải khôi phục lại các quan hệ xã hội đã vi phạm. Nếu xét về đặc điểm của trách nhiệm dân sự thì ở Việt Nam tồn tại nhiều quan điểm khác nhau nhưng có thể thấy những điểm chung sau: Một là, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý khác với trách nhiệm đạo đức, đó là trách nhiệm pháp lý có các chế tài cụ thể.
Hai là, trách nhiệm dân sự không phải là sự trừng phạt mà là một biện pháp, một hình thức cưỡng chế của nhà nước và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc người có hành vi vi phạm pháp luật phải bồi thường cho người bị tổn hại do hành vi đó gây ra Ba là, bên có hành vi vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm về tài sản hoặc phải thực hiện một công việc hoặc không thực hiện một công việc vì lợi ích hợp pháp của bên vi phạm. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bốn là, trách nhiệm dân sự được thành trách nhiệm dân sự hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Trách nhiệm dân sự hợp đồng phát sinh khi hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ như đã giao kết gây thiệt hại cho bên bị vi phạm và bên bị vi phạm đòi bồi thường. Trách nhiệm ngoài hợp đồng phát sinh khi một bên có lỗi gây thiệt hại cho một bên khác về tài sản, tính mạng, sức khỏe, các quyền nhân thân mà trước đó giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại không có giao kết hợp đồng hoặc có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng và bên bị thiệt hại đòi hỏi sự bồi thường.
Trách nhiệm trong hợp đồng hay trách nhiệm ngoài hợp đồng ngoài hợp đồng giống nhau ở chỗ phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ dân sự. Theo quy định tại Điều 280 BLDS năm 2005 “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền) ”. Như vậy nghĩa vụ được phân biệt bởi nghĩa vụ bị vi phạm phát sinh từ hợp đồng hoặc từ pháp luật. Tuy nhiên ở đây cần thấy có sự khác nhau, trách nhiệm hợp đồng là một nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ khác với hợp đồng.
Nghĩa vụ hợp đồng phát sinh trên cơ sở sự thống nhất ý chí của các đương sự hay hành vi vi phạm pháp luật. Nghĩa vụ bồi thường phát sinh ngoài ý chí của đương sự, nó do luật định. Từ những điểm trên đây, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau ở Việt Nam và thế giới.Ioffe (đại diện cho các luật gia ở Nga) đã đưa ra định nghĩa “Trách nhiệm dân sự, đó là những chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ mà việc áp dụng những chế tài đó sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho bên vi phạm dưới hình thức tước quyền dân sự (như tước quyền sở hữu, tước quyền thừa kế….) hoặc bằng hình thức đặt ra cho họ những nghĩa vụ mới hoặc nghĩa vụ bổ sung như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ nộp phạt vi phạm hoặc nghĩa vụ trả tiền lãi đối với.
trách nhiệm được thể 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện bằng hình thức cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ đối với tài sản của người mắc nợ, tuy nhiên có thể có trường hợp trách nhiệm không có nghĩa vụ, chẳng hạn trách nhiệm áp dụng đối với người bảo lãnh, người thứ ba sở hữu tài sản thế chấp. Do vậy không phải bất kể trường hợp nào bị áp dụng chế tài cũng đều có sự vi phạm nghĩa vụ. Ở Việt Nam, giai đoạn trước cách mạng tháng tám, có luật gia có quan niệm: Trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của của nghĩa vụ căn cứ vào hành vi mà dân luật coi như là trái luật. Do đó dân luật đã bắt buộc người thực hiện hành vi trái luật phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Trách nhiệm dân sự phát sinh ra nghĩa vụ bồi thường đối với người nào đã làm ra một hành vi trái luật là mà gây tổn hại cho người khác. Quan điểm này trên thực tế còn gây rất nhiều tranh cãi. Theo quy định của Luật La Mã, ngoài các nguyên nhân hợp pháp như hợp đồng và chuẩn hợp đồng, nghĩa vụ được phát sinh bởi nguyên nhân bất hợp pháp như vi phạm và chuẩn vi phạm. Vi phạm được chia thành hai loại là tội hình sự và dân sự phạm.
Đối với dân sự phạm, nạn nhân có thể kiện ra tòa xin bồi thường. Dân sự phạm là sự thiệt hại gây ra một cách bất chính đáng cho người khác, làm nghèo cho nạn nhân nhưng không làm giàu thêm cho người vi phạm. Tuy nhiên các luật gia La Mã chưa bao giờ đạt tới nguyên tắc chung rằng mọi người phải chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại mà mình gây ra cho người khác. Vấn đề này được các luật gia thuộc trường phái tự nhiên, tiêu biểu là Grotious và Domat khắc phục vào thế kỷ thứ XVII và XVIII, sau đó được ghi nhận vào các bộ luật của Châu Âu.
Bộ luật Dân sự pháp hiện nay có quy định nguyên tắc tổng quát “Bất cứ hành vi nào của một người mà gây thiệt hại cho người khác thì người đã gây ra thiệt hại do lỗi của mình phải bồi thường thiệt hại”. Tác giả Vũ Văn Mẫu khẳng định: Trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của nghĩa vụ không căn cứ vào ý chí của đương sự tức là nguồn gốc bất hợp pháp. Vì vậy trách nhiệm dân sự làm phát sinh ra nghĩa vụ bồi thường đối với người đã thực hiện một hành vi trái luật gây tổn thiệt cho một người 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Qua tìm hiểu các tài liệu, chúng tôi cũng chưa tìm thấy khái niệm về trách nhiệm dân sự được đề cập tới một cách rõ ràng, cụ thể trong văn bản nào, vì vậy dựa vào các đặc điểm nêu trên đây cũng như nhiều quan điểm của các chuyên gia pháp luật trong và ngoài nước có thể hiểu khái niệm về trách nhiệm dân sự như sau: Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của một người hoặc nhiều người phải thực hiện vì lợi ích hợp pháp của người khác theo những căn cứ do pháp luật quy định.
Trách nhiệm dân sự nói chung chỉ phát sinh do một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đã giao kết, thỏa thuận hoặc đối với bên kia hay do một bên có lỗi gây thiệt hại cho một bên khác về tài sản, tính mạng, sức khỏe, các quyền nhân thân và bên bị thiệt hại đòi hỏi sự bồi thường. Từ những quy định trọng BLDS hiện hành có thể chia nghĩa vụ dân sự thành những loại sau đây: a. Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ b. Nghĩa vụ dân sự liên đới c.
Nghĩa vụ dân sự được chia theo phần d. Nghĩa vụ dân sự hoàn lại e. Nghĩa vụ dân sự bổ sung Theo quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới như sau: - Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. - Trong trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.
- Trong trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Trong trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ. Pháp luật dân sự bên cạnh việc quy định các quy tắc xử sự chung cho các chủ thể khi họ tham gia giao dịch dân sự thì còn quy định trách nhiệm dân sự nhằm áp dụng đối với các chủ thể nêu trong quá trình tham gia và thực hiện các giao dịch dân sự đó mà không tuân thủ các quy tắc xử sự chung đó.