Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm của thương nhân KDHH đối với NTD Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về trách nhiệm của thương nhân KDHH đối với NTD Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về trách nhiệm của thương nhân KDHH đối với NTD 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án Trong những năm gần đây, hoạt động thƣơng mại ngày càng phát triển với sự tham gia đông đảo của các tổ chức, cá nhân KDHĐ và các tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa. Trong quan hệ thƣơng mại, khách hàng (hay NTD) là chủ thể quyết định sự tồn tại và phát triển của cá nhân, tổ chức kinh doanh. Mối quan hệ giữa hai nhóm chủ thể càng trở nên phức tạp khi hoạt động thƣơng mại diễn ra ngày càng phổ biến với những phƣơng thức giao dịch đa dạng.
Do vậy, yêu cầu cấp thiết với mỗi quốc gia là phải xây dựng và hoàn thiện các chế định pháp lý nhằm điều chỉnh mối quan hệ nói trên để hài hòa quyền và lợi ích của cả hai nhóm chủ thể là ngƣời kinh doanh và NTD. Trong mối quan hệ tiêu dùng, QLNTD chỉ đƣợc bảo đảm khi vấn đề trách nhiệm của thƣơng nhân đƣợc luật hóa, đây là căn cứ pháp lý để BVQLNTD và nâng cao trách nhiệm của thƣơng nhân trong hoạt động kinh doanh. Trên thế giới, nhiều quốc gia (tiêu biểu như Anh, Pháp, Mỹ, Ấn Độ, Singapore.) đã xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm tối đa quyền, nâng cao lợi ích cho NTD thông qua quy định trách nhiệm của thƣơng nhân gắn liền với các trách nhiệm bảo đảm chất lƣợng sản phẩm, cung cấp thông tin về chất lƣợng sản phẩm hay trách nhiệm trong các hoạt động BVQLNTD. Tại Việt Nam, tiếp thu và học hỏi kinh nghiệm quốc tế, trách nhiệm của thƣơng nhân nói chung và thƣơng nhân KDHH nói riêng đã đƣợc luật hoá trong các văn bản pháp luật về thƣơng mại, doanh nghiệp, cạnh trạnh, BVQLNTD.
và một số văn bản hƣớng dẫn liên quan khác. Qua nhiều năm thực hiện, mặc dù đã có các quy phạm pháp luật điều chỉnh về trách nhiệm của thƣơng nhân đối với NTD nhƣng vị thế giữa hai chủ thể này chƣa khi nào đƣợc cân bằng thỏa đáng. Bên cạnh đó, các quy định về trách nhiệm của 9 thƣơng nhân đối với NTD còn chồng chéo, mâu thuẫn, nhiều nội dung còn thiếu sót, chƣa phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội. Những hạn chế trong hệ thống pháp luật thực định cùng những mặt trái của nền kinh tế thị trƣờng nhƣ vấn nạn hàng giả, hàng kém chất lƣợng, thực phẩm bẩn, tình trạng lừa dối khách hàng, kinh doanh gian lận.
là những nguyên nhân gây ảnh hƣởng tới lợi ích của NTD khi tham gia quan hệ mua - bán với các chủ thể kinh doanh. Nhƣ vậy, trách nhiệm của thƣơng nhân nói chung và thƣơng nhân KDHH nói riêng đối với NTD là những khía cạnh nghiên cứu tuy mới nhƣng đƣợc nhiều học giả ở các quốc gia trên thế giới quan tâm sâu sắc và có những hƣớng nghiên cứu khác nhau và đƣợc tiếp cận dƣới góc độ các vấn đề: (1) Bảo vệ quyền lợi NTD; (2) Trách nhiệm của thƣơng nhân; (3) Pháp luật về trách nhiệm của thƣơng nhân; Quản lý nhà nƣớc về trách nhiệm của thƣơng nhân; (4) Giải quyết tranh chấp giữa thƣơng nhân với NTD. Các nội dung này có mối quan hệ biện chứng và thƣờng đƣợc lồng ghép trong các công trình nghiên cứu trên cả ba phƣơng diện lý luận, thực tiễn và giải pháp. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài Luận án Cuốn cẩm nang The Oxford Handbook of Corporate Social Responsibility (tạm dịch: “Cẩm nang về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”), Oxford University (2019) nghiên cứu, đánh giá, bình luận có tính học thuật nhằm hƣớng tới việc trả lời câu hỏi: Trách nhiệm kinh doanh của doanh nghiệp là gì? Cuốn cẩm nang bao quát các vấn đề từ quan hệ kinh doanh giữa doanh nghiệp với chính phủ, xã hội; khía cạnh đạo đức của doanh nghiệp, của nhà quản lý; các vấn đề về môi trƣờng, quản trị, toàn cầu hóa; vấn đề tranh luận giữa các Cổ đông của doanh nghiệp với NTD.
Điểm nổi bật của cuốn cẩm nang này là đã cung cấp những nghiên cứu mới với tƣ tƣởng, quan điểm rõ ràng xoay quanh trách nhiệm kinh doanh của doanh nghiệp 10 đối với xã hội và ở phạm vi hẹp hơn là trách nhiệm của thƣơng nhân đối với NTD [86]. Simon Whittaker, University of Oxford (2014), The development of product liability (tạm dịch:“Quá trình phát triển của chế định TNSP”). Cuốn sách do tác giả Simon Whittaker - trƣờng Đại học Oxford - làm chủ biên. Nhóm tác giả khẳng định chế định về TNSP, một loại trách nhiệm đặc thù của thƣơng nhân trong kinh doanh, liên quan đến các quy định về trách nhiệm bảo hành sản phẩm, chống sai sót, khiếm khuyết của sản phẩm, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do sản phẩm khiếm khuyết gây ra đối với NTD.
và sự phát triển của chế định này trong suốt tiến trình lịch sử. Đồng thời các tác giả cũng phân tích những khác biệt cơ bản về nội dung của chế định TNSP giữa các nƣớc trong khu vực Tây Âu nhƣ Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha. Đây là công trình nghiên cứu có tính tham khảo về lịch sử phát triển của chế định TNSP của thƣơng nhân ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới [96]. Tác phẩm đƣợc xây dựng trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển của hệ thống pháp luật về TNSP ở khu vực Trung Âu.
Nhóm tác giả thực hiện nhiều cuộc tham khảo nhằm so sánh các ƣu điểm, hạn chế về chế định TNSP giữa các nƣớc thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa với các nƣớc thuộc hệ thống tƣ bản chủ nghĩa. Qua đó, phân tích kinh nghiệm trong hoạt động BVQLNTD của các nƣớc thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa nhằm hoàn thiện pháp luật về TNSP của Trung Âu nói riêng và toàn Châu Âu nói chung. Nghiên cứu đặt ra yêu cầu cần thiết nhằm tạo nên sự hài hòa pháp luật giữa các nƣớc Châu Âu với các nƣớc xã hội chủ nghĩa về TNSP của thƣơng nhân đối với NTD [82]. Elisabet Garriga và Domènec Melé (2004), Corporate Social Responsibility Theories: Mapping the Territory (tạm dịch:“Học thuyết về 11 trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Các quan điểm và cách tiếp cận”).
Hai học giả cho rằng trách nhiệm xã hội, trách nhiệm kinh doanh của thƣơng nhân đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau và là vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi bởi nội dung thƣờng không rõ ràng. Trong nghiên cứu này, học thuyết về trách nhiệm của thƣơng nhân đƣợc tiếp cận liên quan đến 04 nhóm: (1) các học thuyết về công cụ, trong đó doanh nghiệp đƣợc xem là công cụ để tạo ra sự thịnh vƣợng bằng việc thực hiện các hoạt động kinh doanh hƣớng tới NTD; (2) các học thuyết về chính trị, liên quan đến quyền lực của các tập đoàn kinh tế, các nhóm doanh nghiệp lớn sử dụng có trách nhiệm quyền lực của mình trên trƣờng chính trị; (3) các học thuyết tổng hợp, trong đó tập đoàn kinh tế và nhóm các doanh nghiệp lớn tập trung vào việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của xã hội; (4) các học thuyết về đạo đức, dựa trên trách nhiệm đạo đức của tập đoàn kinh tế, thƣơng nhân, doanh nghiệp tác động đến NTD và xã hội. Các học giả cũng khẳng định cần phải tiếp nhận 04 nhóm học thuyết này tạo nên một chỉnh thể tổng hợp nhằm phát triển một học thuyết mới liên quan đến mối quan hệ giữa thƣơng nhân với xã hội và NTD [32]. Tác giả chỉ ra trách nhiệm kinh doanh đối với xã hội, đối với NTD của thƣơng nhân là hành vi thuộc về chuẩn mực đạo đức của doanh nghiệp nhằm tạo ra môi trƣờng kinh doanh trong sạch và có sự điều tiết hài hòa.
Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm với cộng đồng NTD là yêu cầu cần thiết đối với các doanh nghiệp và thƣơng nhân bởi NTD luôn là đối tƣợng chịu sự chi phối rất lớn từ các thƣơng nhân trong hoạt động thƣơng mại. Howard Bowen’s cũng đƣa ra minh chứng thuyết phục về vị thế tƣơng phản giữa một bên là ngƣời kinh doanh với một bên là NTD và cộng đồng xã hội mà NTD luôn ở vị trí yếu thế hơn. Do vậy, cần phải có chính sách, thiết chế, quy phạm về đạo đức và pháp luật phù hợp để điều chỉnh để góp phần cân bằng vị thế giữa hai nhóm chủ thể này [62]. Rajyalakshmi Rao đƣa ra khái niệm và vai trò của NTD trong mối quan hệ với doanh nghiệp, thƣơng nhân KDHH.
Khách hàng (NTD) luôn đƣợc coi là “thượng đế” ở tất cả các hoạt động kinh doanh, thƣơng mại. Thƣơng nhân kinh doanh phải có trách nhiệm làm hài lòng khách hàng và tuyệt đối không viện dẫn bất cứ lý do gì để bao biện cho sự xâm phạm, lạm dụng đến các quyền, lợi ích của NTD. Rajyalakshmi Rao từng là Ủy viên của Ủy ban Giải quyết tranh chấp cho NTD của Ấn Độ nên ông cũng đƣa ra những kiến nghị và giải pháp quan trọng để cải thiện mối quan hệ giữa thƣơng nhân và NTD, góp phần nâng cao trách nhiệm và ý thức tích cực từ thƣơng nhân đối với NTD. Đây là một công trình nghiên cứu chứa đựng đầy đủ nguyên lý, lý thuyết căn bản về mối quan hệ thƣơng nhân – NTD trong hoạt động kinh doanh, thƣơng mại và tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa [93].
Subhabrata Bobby Banerjee (2007), Corporate Social Responsibility: The Good, the Bad and the Ugly (tạm dịch: “Những điểm tốt, chưa tốt và không ổn về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”). Học giả Subhabrata Bobby Banerjee phân tích các bài thuyết trình, các bài báo, bài luận về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội và đối với NTD. Từ đó, học giả nhận định trách nhiệm của nhà kinh doanh không chỉ là một vấn đề xã hội mà còn là một vấn đề pháp lý cần đƣợc điều chỉnh bằng các quy định của pháp luật. Theo đó, việc ràng buộc trách nhiệm của thƣơng nhân với các quy định của pháp luật sẽ bảo vệ đƣợc NTD trong mối quan hệ mua bán hàng hoá với thƣơng nhân.