CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG KHI GIAO DỊCH DÂN SỰ ĐƯỢC CÔNG CHỨNG BỊ TUYÊN BỐ VÔ HIỆU Trong khoa học pháp lý và thực tiễn xét xử, khi xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng để xác định trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại, thì phải căn cứ vào các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường. Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH nói chung được quy định tại Điều 584 BLDS năm 2015, bao gồm 03 căn cứ: (i) có thiệt hại thực tế; (ii) việc gây thiệt hại không phụ thuộc trường hợp được pháp luật cho phép hoặc hoàn toàn do lỗi của bên có quyền; (iii) có quan hệ nhân quả giữa việc gây thiệt hại với thiệt hại thực tế. Và BTTH của TCHNCC khi giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu cũng cần đáp ứng các điều kiện trên. Theo quy định của BLDS năm 2015 thì “căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH do người gây ra chỉ cần tồn tại yếu tố có thiệt hại xảy ra trên thực tế, có hành vi trái pháp luật (xâm phạm tới lợi ích của người khác mà không thuộc trường hợp không chịu trách nhiệm bồi thường) và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra thì đã làm phát sinh trách nhiệm BTTH, 3 không cần xem xét người gây thiệt hại có lỗi hay không có lỗi”.
Theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 thì TCHNCC phải BTTH trong các trường hợp: “do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch 4 là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng” ; “vi phạm quy định của Luật này thì bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại phải bồi 5 thường theo quy định của pháp luật” ; “không đủ điều kiện hành nghề công chứng mà hành nghề công chứng dưới bất kỳ hình thức nào thì phải chấm dứt hành vi vi phạm, bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy 6 định của pháp luật”. Qua đó có thể đánh giá trách nhiệm BTTH của TCHNCC phát sinh khi: (1) Việc công chứng sai quy định làm cho giao dịch dân sự được công chứng bị tuyên bố vô hiệu dẫn đến thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác; (2) Có lỗi của công chứng viên, nhân viên, người phiên dịch là cộng tác viên của TCHNCC. 3 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, (Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ 2, có bổ sung), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.
4 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014. 5 Điều 72 Luật Công chứng năm 2014. 6 Điều 74 Luật Công chứng năm 2014. Việc công chứng sai quy định pháp luật làm cho giao dịch dân sự vô hiệu, gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác 1.
Việc công chứng sai quy định pháp luật làm cho giao dịch dân sự được công chứng bị tuyên bố vô hiệu Xác định việc công chứng là không đúng quy định của pháp luật phải xác định từ hành vi trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật trong hoạt động công chứng là vi phạm pháp luật về công chứng, bao gồm các quy định của pháp luật có liên quan đến hình thức, nội dung giao dịch dân sự như: Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở… hay quy trình tiếp nhận hồ sơ thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch được quy định trong pháp luật của công chứng, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của CCV. Điểm đ khoản 1 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014 thừa nhận CCV có quyền “được từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội”. Nếu thực hiện công chứng trong trường hợp này đồng nghĩa với việc có căn cứ xác định việc công chứng là không đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, những trường hợp nào là công chứng không đúng quy định của pháp luật. Tác giả đưa ra các trường hợp sau: (1) Trường hợp việc công chứng thuộc các hành vi bị cấm Các trường hợp CCV không được công chứng theo điểm b, c khoản 1 Điều 7 Luật Công chứng năm 2014: (i) Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác. BLDS năm 2015 quy định hợp đồng, giao dịch, bản dịch khi có mục đích và nội dung trái pháp luật, trái đạo đức xã hội hay giả tạo thì dù trước hay sau khi công chứng đều không có giá trị pháp lý. Các hành vi gian dối có thể đến từ chính người yêu cầu công chứng mặc dù Luật Công chứng năm 2014 đã nghiêm cấm theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 7: “người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa trái pháp luật để yêu cầu công chứng” hay “người làm chứng, người phiên dịch có hành vi gian dối, không trung thực”.
Hay các hành vi gian dối còn có thể có sự tham gia của chính các CCV, do vậy Luật Công chứng năm 2014 quy định đây là hành vi bị cấm nếu vi phạm, TCHNCC sẽ phải BTTH cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà CCV, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng. 10 (ii) Công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi. Trường hợp này sẽ không đảm bảo tính khách quan vì văn bản được yêu cầu công chứng có nội dung liên quan đến quyền lợi của bản thân CCV hoặc những người thân thích trong gia đình của CCV. (2) Trường hợp công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn Khoản 5, 6 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 quy định hai trường hợp CCV có quyền từ chối công chứng: (i) Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được mô tả cụ thể thì CCV đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, CCV tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng.
Hồ sơ yêu cầu công chứng bao gồm các giấy tờ, tài liệu liên quan đến văn bản được yêu cầu công chứng, chính vì vậy, việc CCV xem xét các giấy tờ này chính là đang đánh giá tính hợp pháp của văn bản được yêu cầu công chứng. Nếu đánh giá không cẩn thận, không chính xác thì sẽ có rủi ro xảy ra. (ii) CCV kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch; nếu trong dự thảo hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp với quy định của pháp luật thì CCV phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa. Trường hợp người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì CCV có quyền từ chối công chứng.
Thực tế, các hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn có thể được soạn bởi nhiều chủ thể, không tránh khỏi trường hợp người soạn thảo thiếu kiến thức pháp luật, thiếu trình độ chuyên môn. CCV qua quá trình kiểm tra sẽ phát hiện và hỗ trợ người yêu cầu công chứng sửa đổi, bổ sung các vấn đề này và CCV có quyền từ chối công chứng nếu người yêu cầu công chứng không làm rõ các nghi vấn có liên quan. (3) Trường hợp công chứng di chúc Khoản 2 Điều 56 Luật Công chứng năm 2014 quy định: (i) Trường hợp CCV nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc có căn 11 cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì CCV đề nghị người lập di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng di chúc đó. (ii) Trường hợp tính mạng người lập di chúc bị đe dọa thì người yêu cầu công chứng không phải xuất trình đầy đủ giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng nhưng phải ghi rõ trong văn bản công chứng, gồm: - Phiếu yêu cầu công chứng; - Dự thảo hợp đồng, giao dịch; - Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng; - Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó; - Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.
Thực tế hiện nay, việc để lại di chúc khá phổ biến và thường liên quan đến những tài sản có giá trị lớn. Tuy nhiên không phải di chúc nào cũng được công nhận là hợp pháp, đặc biệt là trường hợp người thừa kế lợi dụng quy định này để làm giả di chúc nhằm mục đích chiếm đoạt phần tài sản. Một bản di chúc hợp pháp là bản di chúc được lập tại thời điểm mà người để lại di chúc minh mẫn sáng suốt, việc lập di chúc và phân chia di sản theo ý chí của họ không bị lừa dối hay bị ai cưỡng ép. Nội dung di chúc không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội và bảo đảm đúng về hình thức của di chúc.