Chương 1 KHÁI LUẬN VE TRÁCH NHIỆM BOI THUONG THIET HAI CUA NGUOI VAN CHUYEN HANG KHONG DAN DUNG DOI VOI HANH KHACH 1. Khái niệm va đặc diém của trách nhiệm của người vận chuyên hàng không dân dụng về những thiệt hại xảy ra đối với hành khách Vận chuyền nói chung là hoạt động của con người di chuyên người hay đồ vật từ một nơi nay tới một nơi khác. Sự tự di chuyên bản thân của con người không phải là hoạt động vận chuyền. Ngôn ngữ đời thường gọi dang này là đi lại.
Có điểm chung giữa vận chuyển và tự đi lại là sử dụng phương tiện di chuyên, trừ tự đi bộ. Xã hội càng ngày càng hiện đại và sản sinh ra nhiều loại phương tiện giúp con người đi lại và vận chuyển. Trong các quan hệ điều chỉnh có quan hệ phát sinh do người vận chuyền gây thiệt thiệt hại cho hành khách trong quá trình vận chuyền. Theo tiêu chí sử dụng phương tiện gì đê vận chuyên, vận chuyên chia thành vận chuyên ô tô, vận chuyên hỏa xa, vận chuyên tàu bay, vận chuyên tàu biên.
Phương tiện vận chuyển là những máy móc do con người tạo ra dé di chuyền trong những môi trường khác nhau. Do đó theo tiêu chí môi trường di chuyển, các dang vận chuyển được chia thành dạng vận chuyển đường bộ, vận chuyền đường sắt, vận chuyên đường thủy, vận chuyền hàng không. Vận chuyên hàng không định nghĩa là việc sử dụng tàu bay dé di chuyên hành khách hoặc hàng hóa, hành lý từ một địa điểm này tới địa điểm khác. Việc vận chuyên du lịch như du lịch ở Vịnh Hạ Long có điểm đi và điểm đến như nhau không bao gồm trong khái niệm vận chuyền hàng không.
Người vận chuyên hang không cũng như những người vận chuyên bằng các phương tiện vận chuyên khác đều phải chịu trách nhiệm khi hành khách bị thiệt hại trong quá trình vận chuyên. Trong quá trình vận chuyền, hành khách là đối tượng được người vận chuyển vận chuyền từ nơi này tới nơi khác, do đó người vận chuyển phải bảo đảm an toàn cho tính mạng và sức khỏe của hành khách. Một khi hành khách bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hay hành lý trong quá trình vận chuyển hàng không dân dụng khiến cho người vận chuyền hàng không dân dụng phải bồi thường thiệt hại theo những điều kiện nhất định. Vì vậy trách nhiệm pháp lý của người vận chuyên trong trường hợp này là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm chết hay gây thiệt hại tới sức khỏe của hành khách.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một dạng trách nhiệm pháp lý mà được xem là một loại chế tài hay trách nhiệm dân sự, theo đó người gây thiệt hại cho người khác phải bồi thường người này những thiệt hại đó. Bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự có hai loại là: thứ nhất, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng: và thứ hai, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Người phải bôi thường thiệt hại ở đây là người vận chuyên hàng không mà thường được tổ chức dưới dạng hàng hàng không. Thông thường để xét tới bồi thường thiệt hai, người vận chuyển hàng không thường được phân chia thành hai loại người vận chuyền khác nhau: (1) người vận chuyền gián tiếp, tức là người giao kết hợp đồng thông qua phát hành chứng từ vận chuyên khi được bên muốn vận chuyền yêu cầu; (2) người vận chuyên trực tiếp, tức là người trực tiếp vận chuyển hành khách và hành lý, hàng hóa bang tau bay.
Người đòi bồi thường là hành khách được người vận chuyên hàng không vận chuyên theo vé hàng khách mà phải gánh chịu một thiệt hại nào đó trong quá trình vận chuyền bằng tầu bay. Ở đây hành khách được hiểu là bất kỳ ai, trừ các thành viên tổ bay, được vận chuyên bằng tàu bay do ký kết hợp đồng với người vận chuyền. Thực chất mối quan hệ pháp lý giữa hành khách và người vận chuyên phát sinh bởi sự thống nhất ý chí vận chuyển hàng không. Theo hợp đồng vận chuyền nói chung, người vận chuyên có nghĩa vụ bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cũng như hành lý của hành khách trong suốt quá trình vận chuyển không kể là vận chuyên bởi phương tiện gi.
Thế nhưng dé tăng cường trách nhiệm của người vận chuyển hàng không, pháp luật quốc tế và quốc gia lại thường xem bồi thường thiệt hại đối với hành khách trong vận chuyền bang tau bay là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bồi thường nói chung là bù đắp bắt buộc những thiệt hại về vật chất và tinh thần do mình gây ra và được gọi là chịu trách nhiệm pháp lý. Thiét hại có thé là cái chết hoặc tôn hai sức khỏe (thé chất hoặc tinh thần) hoặc mat mát, thiếu hụt, hư hỏng về hành lý, hàng hóa của hành khách hay người gửi. Vậy, là trách nhiệm dân sự việc bồi thường thiệt hại như vậy là rất đúng với lý thuyết chung về trách nhiệm dân sự.
Trách nhiệm như vậy buộc người vận chuyền hành không dân dụng được xem là có hành vi gây ra thiệt hại phải bu đắp những thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho bên phải gánh chịu thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vận chuyên hàng không với hành khách buộc người vận chuyền phải bù đắp những thiệt hại xảy ra đối với sức khỏe thé chất hoặc sức khỏe tinh thần hoặc thiệt hai tinh mạng của hành khách khi vận chuyền bằng tàu bay. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại này có những đặc điểm của trách nhiệm dân sự nói chung, tức là dựa vào yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn (người bị thiệt hại hay những người có lợi ích) và bị biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Trách nhiệm bồi thường thiệt hai của người vận chuyển hàng không dân dụng đối với hành khách trong hoạt động vận chuyền bằng tàu bay có một số đặc điểm đáng chú ý như sau: Thứ nhất, đây là một chế định bao gồm cả các quy định của luật tế và luật quốc gia ở hầu hết quốc gia nào.
Pháp luật quốc gia có nguồn chủ yếu là đạo luật về hàng không dân dụng và đạo luật dân sự (Bộ luật Dân sự) hoặc các tập hợp quy định khác từ các nguồn án lệ. Chế định này bao trùm các điều kiện làm phát sinh ra trách nhiệm bồi thường, mức bồi thường thực tế, giới hạn trách nhiệm của người vận chuyền hàng không dân dụng, lỗi được miễn trách hoặc tăng nặng trách nhiệm, không áp dụng giới hạn. Thứ hai, hoạt động của tau bay là một nguồn nguy hiểm cao độ vì sự di chuyền của nó trong không trung nơi mà không thể dừng chuyền động đột ngội. Cho nên lỗi trong cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyền hang không đòi hỏi khắt khe hơn nhiều so với các dang vận chuyền khác.
Thứ ba, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển hàng không luôn được giới hạn với một mức nhất định nhưng phụ thuộc chứng minh của bên bi thiệt hại hay những người liên quan. Các điều ước quốc tế, người ta dùng “Quyền rút vốn đặc biệt” (SDR) cuar Qũy tiền tệ quốc tế để xác định giới hạn trách nhiệm. * Đối tượng được vận chuyển: + Hành khách là người được hãng hàng không vận chuyền từ một nơi này tới một nơi khác theo hợp đồng được vận chuyên được ký kết giữa hãng hàng không với hành khách đó. + Hành lý là những vật phẩm (bức tranh, tượng nhỏ, quả tặng.), đồ dùng và tư trang của hành khách (nước hoa, son phan, quan áo.) can thiết hoặc có thể mang theo, sử dụng, nhưng bảo đảm cho sự tiện lợi và hữu dụng trong chuyên bay.
Nói tới hành lý là nói tới hành lý ký gửi và cả hành lý xách tay mà hành khách mang theo lên tầu bay. Hành lý xách tay là hành lý mà hành khách được phép mang theo lên khoang hành khách cùng hành khách với sự tự bảo quản của hành khách. Còn hành lý ký gửi đi theo hành khách trên cùng một chuyến bay nhưng hành khách không được mang theo người. Thông thường hành lý xách tay cũng như hành lý ký gửi có một giới hạn nhất định về trọng lượng theo quy định của pháp luật hay của hãng hàng không.
Hành lý miễn cước là hành lý không phải trả cước phí vận chuyển với một khối lượng hoặc số lượng hành lý nhất định khi hành khách được phép mang theo người trên khoang hành khách trong chuyến bay. Hành lý tính cước là một khối lượng hay số lượng hành lý nhất định mà hành khách mang theo nhưng vượt quá khối lượng hoặc số lượng được miễn cước như trên heo quy định của pháp luật hay điều lệ vận chuyên. Vì vậy hành khách phải trả cước phí vận chuyền cho số lượng hayt khối lượng hành lý miễn cước. * Chứng từ vận chuyển: + Vé hành khách, vé hành ly ký gửi do người vận chuyên hàng không hoặc người đại diện phát hành mà trong đó bao gồm các điều kiện của hợp đồng vận chuyền hàng không cùng các ghi chú cần thiết theo luật định.
Ngoài ra thẻ hành lý cũng được xem là một loại chứng từ vận chuyển dùng để thuận tiện trong việc nhận biết hành lý của hành khách cụ thể; và xác định hành trình, tức điểm đi, điểm đến của hành lý đó, đồng thời xác định tính chat và trạng thái của hành lý, cũng như dùng làm căn cứ dé hành khách khiếu nại về sự cô bât thường xảy ra đôi với hành lý. Các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của người vận chuyển hàng không dân dụng đối với những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của hành khách trong quá trình vận chuyển Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyên hang không đối với những thiệt hại gây ra đối với hành khách trong hoạt động vận chuyên được quy định cụ thé trong các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia. Sớm nhất trong luật hành không quốc tế là hệ thống Vácxava bắt đầu băng công ước Vácxava. Đây là co sở pháp lý quan trọng thống nhất các quy phạm nhằm giải quyết van đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vận chuyên hàng không quốc tế.
Tuy nhiên pháp luật quốc gia cũng có sự chuyền hóa các điều ước trong hệ thống này vào pháp luật quốc gia tạo nên một hệ thống các quy tắc bao phủ gần như toàn cầu. Theo Công ước Vácsava năm 1929, thì người vận chuyên phải chịu trách nhiệm trong trường hợp hành khách bị chết hay bị thương trong quá trình vận chuyên bằng tầu bay. Người vận chuyển bị buộc chịu trách nhiệm về mat mát, thiếu hụt hay hư hỏng hành lý trong quá trình vận chuyền.