Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Chương 2: Giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Chương 3: Thực tiễn và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1.
Khái niệm trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài 1. Định nghĩa bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng Trong các giao lưu dân sự nói chung thì BTTHNHĐ là một loại nghĩa vụ dân sự đặc biệt phát sinh trong đời sống xã hội. Điểm đặc biệt này thể hiện thông qua việc các chủ thể bị gây ra những thiệt hại nhất định. Thiệt hại đó có thể xuất phát từ những lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của con người, của pháp nhân hay nhà nước và bên gây thiệt hại phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý nhất định: Bồi thường thiệt hại.
Theo Từ điển luật học của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thì thiệt hại được định nghĩa là “tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ” [29, tr. Như vậy, thiệt hại ở đây không chỉ là các thiệt hại về mặt tài sản mà còn có thể là các thiệt hại về mặt nhân thân như uy tín, danh dự thậm chí thiệt hại đó còn có thể là sức khỏe, tính mạng của con người. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định tại Điều 420: “Một người cố tình hay vô tình làm tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống, thân thể, sức khỏe, tự do, tài sản hoặc bất cứ quyền nào của người khác, thì bị coi là phạm một hành vi sai trái và có nghĩa vụ bồi thường cho sự tổn thương đó”, những hành vi này có thể làm “tổn thương đến uy tín hoặc lòng tin của người khác, hoặc thu nhập hay sự thịnh vượng của người khác” [43, Điều 423]. Như vậy, bằng quy định này, pháp luật Thái Lan xác định thiệt hại trong quan hệ bồi thường là thiệt hại về thân thể, sức khỏe, tự do, tài sản, các quyền con người.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định về trách nhiệm của bên vi phạm: “Người nào cố ý hoặc vô ý xâm phạm quyền của người khác, hoặc các lợi ích của người khác được pháp luật bảo vệ, sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường bất kỳ thiệt hại nào là hậu quả phát sinh từ hành vi trái pháp luật đó” [41, Điều 709]. Còn theo Luật trách nhiệm do xâm phạm quyền và lợi ích dân sự của Trung Quốc được thông qua ngày 26 tháng 12 năm 2009 và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2010 quy định: “Người nào xâm phạm đến quyền và lợi ích dân sự của người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Quyền và lợi ích dân sự theo quy định của luật này bao gồm quyền sống, quyền được bảo đảm sức khỏe, quyền đối với họ tên, quyền đối với uy tín, danh dự, hình ảnh cá nhân, quyền riêng tư, hôn nhân tự nguyện, giám hộ, sở hữu, quyền bảo mật, bản quyền, quyền sáng chế độc quyền, quyền sử dụng nhãn hiệu, quyền phát minh, góp cổ phần, thừa kế, các quyền tài sản và lợi ích cá nhân khác” [38, Điều 2]. Như vậy, pháp luật các nước và pháp luật Việt Nam dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều quy định về thiệt hại.
Thiệt hại đó chính là các thiệt hại về tài sản, về các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được pháp luật thừa nhận và bảo vệ nhưng đã bị các chủ thể khác xâm hại một cách cố ý hoặc vô ý. Đối với những hành vi xâm phạm những quyền lợi ích hợp pháp đó pháp luật các quốc gia đều quy định các chủ thể gây thiệt hại đều phải chịu trách nhiệm pháp lý - trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Điều 604 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” [1]. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về BTTHNHĐ quy định: Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất tinh thần.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm hại, thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại, thiệt hại do tính mạng bị xâm hại và thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại. - Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất tín nhiệm, uy tín, lòng tin. vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức đó phải chịu [22, tr.
Thiệt hại xảy ra, điều này có nghĩa là quyền và lợi ích hợp pháp của một bên thậm chí có trường hợp là các bên đã bị tác động, bị ảnh hưởng tiêu cực từ bên kia. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể đã bị thiệt hại. Pháp luật các quốc gia đều quy định về trách nhiệm của bên vi phạm đối với bên bị vi phạm. Bên gây thiệt hại có bổn phận, có nghĩa vụ bồi thường cho những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra, nghĩa vụ đền bù, bù đắp cho những tổn thất đã xảy ra cho bên bị thiệt hại.
Theo quy định tại Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2005 việc bồi thường có thể được thực hiện theo các hình thức: Bồi thường bằng tiền, bồi thường bằng hiện vật và bồi thường bằng cách thực hiện một công việc nhất định nhằm khắc phục thiệt hại. Mục đích của việc quy định trách nhiệm bồi thường của bên vi phạm chính là việc “dịch chuyển” thiệt hại từ bên bị thiệt hại sang bên gây thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại có ý nghĩa như một chế tài dân sự nhằm buộc bên thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại phải “trả giá” cho hành vi của mình bằng cách trả một khoản tiền để bù đắp, khôi phục lại tình trạng ban đầu, khắc phục 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những thiệt hại đã xảy ra. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp việc bồi thường đều đạt được mục đích của mình là bù đắp thiệt hại xảy ra theo nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu và các thiệt hại đều được bồi thường dưới cách thức phổ biến là bồi thường bằng tài sản.
Điều này có thể thấy rõ trong những trường hợp như thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì cho dù mức bồi thường có lớn đến đâu đi chăng nữa thì thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người là không gì bù đắp được. Thiệt hại xảy ra là điều kiện xuất hiện quan hệ bồi thường không phân biệt chủ thể gây thiệt hại hay chủ thể bị thiệt hại là ai. Tham gia quan hệ BTTHNHĐ có nhiều loại chủ thể khác nhau: cá nhân, pháp nhân hay nhà nước. Tuy nhiên, đối với mỗi loại chủ thể pháp luật cũng có những quy định riêng và có sự điều chỉnh pháp lý riêng đối với từng loại chủ thể.
Điều 619 và Điều 620 của Bộ luật Dân sự quy định cơ quan nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Điều 30 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 13 của Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng có những quy định tương tự. Theo quy định của Hiến pháp mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức do bất cứ cơ quan nhà nước nào gây ra thì về nguyên tắc người bị thiệt hại có quyền được bồi thường. Trong trường hợp các cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình thi hành công vụ mà gây thiệt hại thì cơ quan nhà nước có trách nhiệm bồi thường.
Bồi thường thiệt hại của nhà nước xét dưới góc độ pháp lý là BTTHNHĐ. Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt là chủ thể gây ra thiệt hại lại là các cán bộ, công chức - những người đại diện cho quyền lực nhà nước gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ mà nhà nước giao phó nên được điều chỉnh bằng văn bản pháp lý riêng - Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước. Luật đã được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, gồm 8 chương với 67 điều. Luật quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thi hành án; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.