Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT GÂY RA 1. Trách nhiệm dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Luật Dân sự 1. Trách nhiệm dân sự Trách nhiệm dân sự là một chế định có lịch sử phát triển lâu đời và cho tới nay vẫn là một trong những chế định có tầm ảnh hưởng rộng rãi và luôn được nghiên cứu trong nhiều hệ thống pháp luật. Luật gia Nga, O.
Ioffe đưa ra định nghĩa: Trách nhiệm dân sự – đó là những chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ mà việc áp dụng những chế tài đó sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho bên vi phạm dưới hình thức tước quyền dân sự (như tước quyền sở hữu, tước quyền thừa kế…) và/hoặc bằng hình thức đặt ra cho họ những nghĩa vụ mới hoặc nghĩa vụ bổ sung như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nộp phạt vi phạm hoặc trả tiền lãi đối với khoản nợ chậm trả. Dường như định nghĩa này đã đồng nhất giữa trách nhiệm dân sự với chế tài dân sự, và cho rằng trách nhiệm dân sự chỉ áp dụng cho vi phạm nghĩa vụ. Trong khi đó, một số luật gia Nhật Bản lại phân tích rằng, trách nhiệm dân sự được thể hiện bằng hình thức cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ đối với tài sản của người mắc nợ; tuy nhiên, có thể có trường hợp trách nhiệm không có nghĩa vụ, chẳng hạn trách nhiệm áp dụng đối với người bảo lãnh, người thứ ba sở hữu tài sản thế chấp. Vậy không phải bất kể trường hợp nào bị áp dụng chế tài cũng đều có sự vi phạm nghĩa vụ.
Pháp luật dân sự Nhật Bản ấn định gánh nặng tương đương lên người bảo lãnh như người thụ trái chính trong trong nghĩa vụ bảo đảm. Khi có một bảo lãnh đối với một nghĩa 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vụ chuyển giao mà không thay thế, thì nó được xem như một điều kiện đình chỉ chuyển đổi thành nghĩa vụ chi trả bồi thường bởi sự không thực hiện nghĩa vụ chính. Luật La Mã xác định, ngoài các nguyên nhân hợp pháp như hợp đồng và chuẩn hợp đồng, nghĩa vụ còn phát sinh ra bởi nguyên nhân bất hợp pháp như vi phạm (delictum) và chuẩn vi phạm (quasi ex delicto). Vi phạm được chia thành hai loại là tội hình sự và dân sự phạm.
Đối với dân sự phạm, nạn nhân có thể kiện ra toà xin bồi thường. Dân sự phạm là sự thiệt hại gây ra một cách bất chính đáng cho người khác, làm nghèo cho nạn nhân nhưng không làm giàu thêm cho người vi phạm. Vi phạm được quy định bởi luật Aquilia. Tuy nhiên các luật gia La Mã chưa bao giờ đạt tới nguyên tắc chung rằng tất cả mọi người phải chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại mà mình gây ra cho người khác.
Mãi tới thế kỷ XVII và XVIII, nó mới được đưa ra bởi các luật gia thuộc trường phái luật tự nhiên, tiêu biểu là Grotius và Domat, rồi được ghi nhận trong các bộ luật của Châu Âu. Ngày nay, BLDS Pháp có qui định nguyên tắc tổng quát: “Điều 1382: Bất cứ hành vi nào của một người mà gây thiệt hại cho người khác, thì người đã gây ra thiệt hại do lỗi của mình phải bồi thường thiệt hại” [10]. Lúc đầu thiệt hại do vi phạm gây ra được tính theo năm trước khi xảy ra thiệt hại, sau đó thiệt hại được tính để bồi thương là toàn bộ thiệt hại, kể cả lợi tức. Có thể nhận thấy rằng, Luật La Mã đã đưa ra hai vấn đề pháp lý quan trọng đó là thiệt hại phát sinh và khoản lời bị mất.
Đó là hai yếu tố quan trọng xác định trách nhiệm dân sự. Dưới chế độ cũ ở Việt Nam, trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của nghĩa vụ căn cứ vào hành vi mà Dân luật coi như là trái luật (illicite). Do đó dân luật đã bắt buộc người làm ra hành vi trái luật phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Tóm lại, trách nhiệm dân sự phát sinh ra nghĩa vụ bồi thường đối với người nào đã làm ra một hành vi trái luật mà gây tổn hại cho người khác.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học pháp lý Việt Nam nói riêng đều có chung quan điểm về trách nhiệm dân sự. Về nguyên tắc, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý. Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật chỉ ra rằng: “trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi mà người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải gánh chịu” [1]. Theo đó trách nhiệm dân sự là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm nghĩa vụ dân sự phải gánh chịu.
Hậu quả bất lợi trong trách nhiệm dân sự được xác định bởi đối tượng điều chỉnh của nó. Đó là các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản. Xem xét dưới góc độ này, BLDS Pháp quy định “hợp đồng giao kết hợp pháp có giá trị như luật đối với các bên giao kết”, tức là nghĩa vụ hợp đồng cũng có giá trị như luật [10]. Vì vậy, người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm dân sự – một loại trách nhiệm pháp lý.
Trách nhiệm dân sự có những đặc điểm riêng biệt thể hiện bản chất của các quan hệ dân sự trong xã hội đó là: - Trách nhiệm dân sự là quan hệ luật tư giữa hai chủ thể độc lập có địa vị pháp lý bình đẳng, và bên vi phạm phải gánh chịu trực tiếp trước bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chứ không phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước hoặc người khác, trừ trường hợp chế tài vô hiệu hợp đồng do chống lại trật tự công cộng và đạo đức xã hội; - Trách nhiệm dân là trách nhiệm tài sản; - Trách nhiệm dân sự được áp dụng đối với bên vi phạm phải tương xứng với hậu quả của hành vi vi phạm, tức là tương xứng với mức độ tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà người thiệt hại phải gánh chịu; - Trách nhiệm dân sự phải được áp dụng thống nhất và như nhau đối với các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Một số quan điểm cho rằng cần phải đưa cả những tổn thất về tinh thần 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là một trong những đặc điểm của trách nhiệm dân sự. Nhưng trên thực tế, mức độ tổn thất về tinh thần rất khó vật chất hoá, do đó, khó có thể xác định được mức độ tương xứng về bồi thường vật chất và hầu như chỉ đề cập đến trong việc xâm phạm các quyền về nhân thân, bởi vậy trong những trường hợp cụ thể thì mới đặt ra vấn đề bồi thường tổn thất về tinh thần. Có thể khẳng định, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, khác với trách nhiệm đạo đức, mà ở đây trách nhiệm pháp lý có mục đích xác lập các chế tài cụ thể.
Trách nhiệm dân sự không phải là một sự trừng phạt mà là một biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật phải có nghĩa vụ bồi thường cho người bị tổn hại do hành vi đó gây ra. Trách nhiệm dân sự khác với trách nhiệm hình sự ở chỗ: trách nhiệm hình sự tập trung sự chú ý vào hành vi; còn trách nhiệm dân sự tập trung sự chú ý vào thiệt hại hay hậu quả của hành vi. Do đó, trong trách nhiệm dân sự, dù có hành vi vi phạm nhưng không có sự thiệt hại, thì không dẫn tới nghĩa vụ bồi thường. Tuy nhiên, trong trách nhiệm hình sự người ta cũng quan tâm tới hậu quả ở mức độ nhất định.
Trong trách nhiệm dân sự đôi khi người ta cũng chỉ chú ý tới hành vi trong một dạng trách nhiệm nhất định nào đó. Trách nhiệm hình sự thể hiện sự phản ứng của xã hội đối với kẻ phạm tội trên cơ sở suy diễn hành vi bị trừng phạt đó chống lại sự bình ổn chung của cộng đồng. Ngược lại, trách nhiệm dân sự không phải là sự phản ứng của xã hội đối với người vi phạm mà là sự hỗ trợ của pháp luật đối với người bị thiệt hại do vi phạm gây ra để khôi phục lại tình trạng tài chính như khi không có sự vi phạm. Vì vậy các chế tài dân sự mang tính chất tư, chứ không mang tính chất công như chế tài hình sự.
Dù sao cũng có những vi phạm xảy ra làm phát sinh cả trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm lương tâm. Trách nhiệm dân sự được chia thành trách nhiệm theo hợp đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trách nhiệm hợp đồng phát sinh khi hợp đồng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, gây thiệt hại cho bên bị vi phạm và bên bị vi phạm đòi bồi thường. Trách nhiệm ngoài hợp đồng phát sinh khi một người có lỗi gây thiệt hại cho một người khác và người bị thiệt hại đòi hỏi sự bồi thường.
Trách nhiệm hợp đồng hay trách nhiệm ngoài hợp đồng giống nhau ở chỗ đều phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ, nhưng được phân biệt bởi nghĩa vụ bị vi phạm phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các qui định của pháp luật. Tuy nhiên cần phân biệt thêm rằng, trách nhiệm hợp đồng là một nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ khác với hợp đồng. Nghĩa vụ hợp đồng phát sinh trên cơ sở sự thống nhất ý chí của các đương sự hay hành vi pháp lý. Còn trách nhiệm hợp đồng là nghĩa vụ bồi thường phát sinh ngoài ý chí của đương sự, do luật định, tức là dù các bên không thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, nhưng khi xảy ra tình huống được quy định trong văn bản quy phạm liên quan thì bên có lỗi vẫn phải bồi thường thiệt hại.
Do hợp đồng là sự thể hiện ý chí, sự thỏa thuận của các bên cho nên khi hợp đồng bị vi phạm mà không dự tính được và không có quy định trong hợp đồng thì người vi phạm không mong muốn phải gánh chịu chế tài như vậy. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng nếu các bên đặt ra các giải pháp và tự thi hành trong việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, thì không dẫn tới tranh chấp pháp lý.