CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO CỦA CON NGƯỜI, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm quyền con người, quyền tự do của con người, quyền công dân và quyền tự do, dân chủ của công dân Quyền con người, quyền tự do của con người, quyền công dân và quyền TDDC của công dân là các khái niệm thuộc phạm vi của nhân quyền. Trong đó, khái niệm quyền con người có nghĩa rộng nhất, khái niệm quyền công dân ở nghĩa hẹp hơn và quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân lại lần lượt thuộc nội dung của quyền con người và quyền công dân. Như vậy, việc làm rõ các khái niệm quyền con người, quyền tự do của con người, quyền công dân và quyền TDDC của công dân vừa cho thấy bản chất của mỗi loại quyền cơ bản trên, vừa phản ánh sự tương đồng nhưng không đồng nhất giữa chúng, đồng thời, cũng chỉ ra việc thể hiện nội dung các quyền đó trong pháp luật nhà nước ta.
Quyền con người Quyền con người là quyền mà mỗi con người đều có từ khi sinh ra hay nói cách khác là quyền tự nhiên, vốn có. Đây là phạm trù rộng và có nhiều định nghĩa khác nhau. Theo tài liệu Hỏi Đáp về Nhân quyền của Liên hợp quốc (United Nations: Human rights: Questions and Answers) thì có đến gần 50 định nghĩa quyền con người được công bố. Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc, quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người [51].
Ở Việt Nam, chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về quyền con 10 người như một định nghĩa mà chỉ có những nội dung nêu ra nội hàm của khái niệm quyền con người. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Trên phương diện nghiên cứu khoa học pháp lý, theo Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người của Khoa Luật Đại Học Quốc gia Hà Nội, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế[21, tr.Đây là cách khái quát dể hiểu và cơ bản nhất về quyền con người.
Nó phù hợp với học thuyết về “quyền tự nhiên” (natural rights) cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại. Với một khái niệm bao hàm rộng hơn, GS.TSKH Lê Cảm cho rằng: “Quyền con người – một phạm trù lịch sử - cụ thể, là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia – thành viên Liên hợp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế [2, tr. Như vậy, quyền con người với đặc tính là tự nhiên và vốn có, nhà nước không thể không thừa nhận. Ngược lại, quyền con người chỉ được bảo đảm khi được nhà nước ghi nhận bằng pháp luật.
Do đó, từ những định nghĩa và phân tích 11 trên, có thể hiểu rằng:Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có của con người, những nhu cầu, lợi ích chính dáng được Nhà nước thừa nhận và pháp luật bảo vệ. Quyền tự do của con người Quyền con người là một phạm trù khá rộng, bao gồm nhiều loại quyền khác nhau như quyền sống, quyền có nơi ở hợp pháp, quyền tự do về thân thể, quyền hưởng an sinh xã hội. Trong đó, quyền tự do là một quyền cơ bản nhất mà con người cần phải được bảo vệ. Tự do được nghiên cứu và luận giải từ nhiều góc độ triết học, chính trị, pháp lý, xã hội học.
Tự do trong từ điển được giải thích là “chỉ khả năng biểu hiện ý chí, làm theo ý muốn của mình, không có sự ràng buộc và hạn chế” [41]. Hiểu một cách khái quát, tự do là tình trạng một cá nhân có thể và có khả năng hành động theo đúng với ý chí, nguyện vọng của mình. Như đã phân tích ở trên, tự do là quyền tự nhiên, vốn có của con người, không phải do sự ban phát của bất kỳ một chủ thể nào. Tuy nhiên, tự do không có nghĩa là con người có thể làm bất cứ điều gì mong muốn mà không gặp bất cứ cản trở nào, vì như vậy sẽ có nhiều người nhân danh tự do để thỏa mãn những mong muốn hay tham vọng cá nhân của mình, phá hoại trật tự xã hội và xâm phạm đến quyền lợi của người khác, do đó làm phương hại đến sự phát triển của mỗi cá nhân, cũng như cả cộng đồng.
Như vậy, từ định nghĩa quyền con người và định nghĩa về tự do đã phân tích ở trên, có thể hiểu rằng: quyền tự do của con người là khả năng con người được tự mình thực hiện và tiến hành những công việc nào đó theo ý muốn của mình mà không bị ngăn cấm, cản trở hay ràng buộc, được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật của quốc gia cũng như pháp luật quốc tế. Quyền tự do của con người được trải rộng ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948, các quyền tự 12 do của con người được ghi nhận bao gồm: - Quyền tự do thân thể - Quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãnh thổ củamỗiquốc gia. - Quyền tự do suy nghĩ, ý thức và tôn giáo - Quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm - Quyền tự do họphành và tham gia hiệphộimộtcách hoà bình.
- Quyền tự do lựachọn công việc - Quyền tự do tham gia vàođờisống văn hoá củacộngđồng, đượcthưởngthức nghệ thuật và chia sẻ nhữngthànhtựu và lợiíchcủatiến bộ khoa học. - Quyền tự do, dân chủ của công dân 1. Quyền công dân Quyền công dân là khái niệm thuộc nội hàm của quyền con người và hai khái niệm này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mặc dù quyền con người được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận nhưng mức độ thừa nhận ở mỗi quốc gia có sự khác nhau.
Mỗi nhà nước tự xây dựng những thiết chế để bảo vệ quyền con người và đặc biệt, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho công dân trong chính quốc gia của mình. Do vậy, việc nghiên cứu khái niệm quyền công dân trong mối tương quan với quyền con người là yêu cầu cần thiết. Khái niệm quyền công dân chỉ xuấthiệncùng với cáchmạng tư sản. Vì cáchmạng tư sản đã đưa con người từ địa vị thần dân trở thành công dân - với tư cách là nhữngthành viên bìnhđẳng trong một nhà nước, và phápđiểnhóacácquyền tự nhiên của con ngườidướihìnhthứccácquyền công dân.
Quyền công dân trong từ điển được định nghĩa như sau: Quyền công dân là quyền của người công dân, bao gồm những quyền TDDC và các quyền lợi cơ bản về kinh tế, văn hóa, xã hội. được hiến pháp công nhận.815] 13 Về cơ bản, mỗi cá nhân đều là chủ thể của hai loại quyền – quyền con người và quyền công dân, trừ trường hợp cá nhân đó là người không có quốc tịch. Quyền công dân gắn liền với mỗi quốc gia và được pháp luật mỗi quốc gia quy định khác nhau. Sự gắn liền đó được thể hiện bởi dấu hiệu quốc tịch.
Quốc tịch thể hiện sự quy thuộc của một cá nhân vào một quốc gia và là dấu hiệu để quốc gia xác định cá nhân đó có tư cách công dân nước mình hay không. Bên cạnh đó, quốc tịch cũng là căn cứ phát sinh quyền lợi và nghĩa vụ giữa công dân và nhà nước. Pháp luật Việt Nam cũng có quy định:Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam (Điều 1 Luật Quốc tịch năm 2008, sửa đổi bổ sung 2014). Như vậy, giữa công dân và nhà nước có mối quan hệ qua lại.
Cụ thể: công dân có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật do nhà nước đặt ra, Nhà nước cũng có quyền quy định các quyền và nghĩa vụ của công dân và có nghĩa vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân khi chúng bị xâm phạm. Tóm lại, một cách khái quát, có thể hiểu quyền công dân là những lợi ích pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện cho các cá nhân mang quốc tịch nước mình. Quyền công dân bao gồm các quyền về chính trị, văn hóa, kinh tế - xã hội, giáo dục và các quyền tự do cá nhân.Quyền công dân chính là một bộ phận của quyền con người được thừa nhận bởi pháp luật quốc gia. Quyền tự do, dân chủ của công dân Như đã được định nghĩa ở trên, quyền tự do của con người là khả năng con người được tự mình thực hiện và tiến hành những công việc nào đó theo ý 14 muốn của mình mà không bị ngăn cấm, cản trở hay ràng buộc, được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật của quốc gia cũng như pháp luật quốc tế.
Quyền tự do của con người có chủ thể là tất cả con người trên trái đất, là người có quốc tịch hoặc không có quốc tịch. Khác với quyền tự do của con người, quyền tự do của công dân được giới hạn bởi đối tượng của quyền này, đó là công dân của một nước tức là người mang quốc tịch của nước đó.