Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI XÂM PHẠM CHỖ Ở CỦA CÔNG DÂN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN VÀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ CHỖ Ở CỦA CÔNG DÂN Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài người, quyền con người là một trong những giá trị tinh thần cao quý nhất, cao cả nhất của nền văn minh nhân loại trong thời đại ngày nay. Quyền con người là kết tinh của những giá trị văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới, thông qua một quá trình đấu tranh lâu dài của toàn nhân loại, trong đó tất cả các dân tộc, giai cấp và xã hội đều có phần đóng góp. Nghiên cứu lịch sử cho thấy, mặc dù "quyền con người" mãi sau này (thế kỷ 18) mới được khẳng định, nhưng những ý tưởng về nó lại ra đời rất sớm cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và hình thành Nhà nước.
Khi mà trong các Nhà nước chiếm hữu nô lệ, người nô lệ bị coi là những "công cụ biết nói" thì những tiếng kêu cứu đòi quyền được sống, được tự do, được quyền làm người. cũng xuất hiện. Xã hội loài người ngày càng phát triển, các trường phái triết học, pháp luật dần hình thành, lớn mạnh. Các trường phái này đi vào nghiên cứu giải thích các vấn đề tự nhiên, xã hội, con người.
Đáng chú ý là thế kỷ 17 - 18 trường phái pháp luật tự nhiên với các đại diện như: Spinoda, Hobbes, Kant. đã mở ra một trang mới cho sự phát triển tư tưởng bảo vệ quyền cá nhân chống lại sự vi phạm từ phía quyền lực, tức là bảo vệ các quyền hiển nhiên, có sẵn của con người, không phải quyền do Nhà nước, pháp luật ban phát. Tư tưởng này góp phần thắng lợi vào cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến tàn bạo, thiết lập Nhà nước mà ở đó con người với những giá trị đích thực của 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nó được nâng lên một bước - công dân của xã hội Nhà nước chứ không phải thần dân của ông vua. Khác với các Nhà nước phong kiến và tư bản phương tây, chế độ Nhà nước phong kiến Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nói chung vẫn mang tính hà khắc.
Song, thời kỳ đó "phép vua" và "lệ làng" có tính dân tộc, nhân đạo, tiến bộ và được thể hiện rõ nét trong Quốc triều Hình luật là Bộ luật do Nguyễn Trãi soạn thảo, được ban hành năm 1843 có kế thừa, bổ sung những luật lệ được ban hành từ rất nhiều năm trước và được nhiều Bộ luật, luật sau này tiếp thu những tư tưởng tiến bộ. Và suốt các triều đại phong kiến Việt Nam, vua mệnh danh là con trời, cai trị trên nền tảng tư tưởng nho giáo bị các triết lý nho giáo, điều chỉnh hành vi của mình. Vua là cha mẹ của dân, buộc phải thích cái dân thích, ghét cái dân ghét bởi "ý trời là lòng dân". Do đó, vương quyền của vua bị hạn chế, dân cũng có được một số yếu tố về các quyền dù còn nhỏ nhặt mang tính cộng đồng.
Như vậy, trong các thời kỳ cổ đại và phong kiến, tư tưởng về quyền con người đã được đề cập đến nhưng còn rời rạc. Khi cách mạng tư sản nổ ra thắng lợi với những tiền đề tư tưởng và thành tựu của khoa học tự nhiên thì vấn đề quyền con người mới được đặt ra như một học thuyết, hay nói cách khác, quyền con người bắt đầu được chính thức công khai thừa nhận. Có thể nói rằng, sự kiện này được đánh dấu bằng Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 và sau đó là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789. Theo đó, "lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, quyền con người chuyển từ phạm vi thỉnh cầu, yêu sách sang phạm vi thực hiện, từ lĩnh vực triết học sang lĩnh vực pháp lý thực tiễn" [31, tr.
Quyền con người, quyền công dân, quyền tự do, dân chủ của công dân và quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (hay còn gọi là quyền tự do chỗ ở) thể hiện các mức độ khác nhau của nội hàm của khái niệm nhân quyền. Do đó, việc làm sáng tỏ bốn khái niệm này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua đó không chỉ nâng cao nhận thức về quyền con người, mà còn bảo đảm cho các quyền này được thực thi và bảo vệ một cách tốt nhất trong thực tiễn, mà dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét. Khái niệm quyền con người Khát vọng về nhân quyền là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản của toàn thể nhân loại. Quyền con người được sinh ra và đồng thời cũng phải bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên.
Quyền con người - nhân quyền, dưới góc độ chung nhất được hiểu là những quyền tự nhiên, vốn có của con người. Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta khó có thể tìm thấy một định nghĩa truyền thống hay kinh điển nào về quyền con người giống như cách làm thông thường đối với nhiều khái niệm khác. Vì vậy, vấn đề quyền con người không chỉ là vấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế định pháp lý cơ bản trong pháp luật của các quốc gia. Ý thức về tôn trọng quyền con người và việc bảo vệ nhân quyền là một quá trình lịch sử lâu dài, liên tục và gắn với lịch sử phát triển của loài người, cũng như sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người qua các hình thái kinh tế - xã hội, các giai đoạn đấu tranh giai cấp khác nhau, qua đó quyền con người dần trở thành giá trị cao quý chung của toàn thể nhân loại và cộng đồng quốc tế.
Xét riêng trong khoa học pháp lý Việt Nam, khi bàn về nhân quyền và bảo vệ quyền con người luôn là vấn đề nóng hổi và có tính thời sự. Mặc dù có khá nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người theo thống kê của Liên Hợp quốc, song về khái niệm này, trước đây và hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, mặc dù nội hàm của khái niệm "quyền con người" về cơ bản là thống nhất với nhau. Có quan niệm cho rằng: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định. Quyền con người vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội; mang tính phổ biến nhưng lại mang tính đặc thù; mang tính giai cấp, đồng thời mang tính nhân loại và thống nhất với quyền dân tộc cơ bản.
"Nội dung của quyền con người được đề ra, xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, từ bản chất của chế độ ta. Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi của chủ quyền quốc gia. Quan điểm khác đã đưa ra định nghĩa tương đối khác biệt khi chỉ ra một số điểm hợp lý với Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, các văn bản quốc tế về quyền con người và phù hợp với các giá trị nền tảng của quyền con người, nhưng đặc biệt lại nêu cả nghĩa vụ của con người trong thời kỳ đổi mới, điều mà các khái niệm khác không đề cập. Theo đó, "quyền con người là nhân phẩm, các nhu cầu (về vật chất và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ của con người được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Ngoài ra, nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu về quyền con người, GS. Lê Cảm đã đưa ra khái niệm bao hàm đầy đủ nội dung của nó: Quyền con người - một phạm trù lịch sử - cụ thể, là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia - 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành viên Liên Hợp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế [7, tr. Theo tác giả, khái niệm này có ý nghĩa rất lớn không chỉ về mặt quan hệ quốc tế - ngoại giao, lịch sử - chính trị, pháp luật, mà còn có giá trị về mặt khoa học - thực tiễn trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay. Quyền con người có quan hệ biện chứng với nhiều thiết chế như: phẩm giá con người, nhu cầu, khả năng của con người, quyền công dân, phát triển con người, an ninh quốc gia, an ninh quốc tế, tự do, dân chủ., đặc biệt là mối quan hệ với thiết chế nhà nước và pháp luật.
Xuất phát từ chỗ quyền con người có đặc tính "tự nhiên", "bẩm sinh vốn có", Nhà nước không thể không thừa nhận. Ngược lại, quyền con người chỉ có giá trị thực tế và được bảo đảm khi được Nhà nước ghi nhận bằng pháp luật. Do vậy, quyền con người là khái niệm bao gồm hai thành tố - tự do, phẩm giá vốn có, nhu cầu tự nhiên, chính đáng của con người và sự ghi nhận, bảo đảm của Nhà nước bằng pháp luật đối với chính các quyền đó. Cho nên, dưới góc độ nội hàm và ý nghĩa của nó, khái niệm quyền con người được hiểu là "các quyền mà con người vẫn có và chỉ con người mới có, đồng thời là sự tự do, nhân phẩm vốn có, nhu cầu, lợi ích chính đáng của con người được Nhà nước thừa nhận và pháp luật bảo vệ" [65, tr.
Hay nói cách khác, quyền con người là các quyền tối thiểu mà các cá nhân, từng con người cụ thể phải có, quyền con người đòi hỏi Nhà nước thừa nhận và tôn trọng các quyền này, đồng thời bảo vệ nó bằng pháp luật. Tóm lại, dưới góc độ khoa học, theo chúng tôi, khái niệm quyền con người được hiểu là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được pháp luật bảo đảm do cá nhân con người nắm giữ trong các quan hệ của mình với các cá nhân khác và với Nhà nước. Như vậy, một số đặc trưng cơ bản được thừa nhận chung về khái niệm quyền con người như sau: 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một là, quyền con người có tính giai cấp, tính giai cấp thể hiện việc Nhà nước ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp và pháp luật.